Connect with us

Giáo dục

Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên giáo dục nghề: phải quy về một mối

Published

on

Trong số 5 trường đại học sư phạm kỹ thuật, có 3 trường trực thuộc Bộ LĐ-TB&XH, 2 trường trực thuộc Bộ GD-ĐT. Có kiến nghị cho rằng việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên giáo dục nghề nghiệp phải quy về một mối

Kiến nghị do một số đại biểu nêu ra tại hội nghị năm trường ĐH sư phạm kỹ thuật với chủ đề: “Định hướng, phối hợp đào tạo phát triển giáo viên, giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2016 – 2020” vừa được Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM tổ chức mới đây.

Theo đó đề xuất trong công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên giáo dục nghề nghiệp phải quy về một mối, có sự phối hợp giữa 5 trường ĐH sư phạm kỹ thuật do Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐ-TB-XH) điều phối. Từ đó xây dựng chuẩn giáo viên, kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo, chọn ngành nghề trọng điểm cho từng trường.

Trước thông tin “5 trường ĐH Sư phạm kỹ thuật muốn về Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp”, PGS.TS Đỗ Văn Dũng – hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, khẳng định không có việc này.

Thực tế hiện chỉ có Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM và Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên trực thuộc Bộ GD-ĐT. Ba trường còn lại (Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Nam Định, Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Vinh, Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long) trực thuộc Bộ LĐ-TB&XH.

“Thực ra, chúng tôi kiến nghị công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên giáo dục nghề nghiệp phải quy về một mối, có sự phối hợp giữa năm trường ĐH sư phạm kỹ thuật do Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐ-TB&XH) điều phối, không phải đưa toàn bộ Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM về trực thuộc Bộ LĐ-TB&XH. Sắp tới sẽ xóa bỏ bộ chủ quản, các trường ĐH tự chủ hoàn toàn, không thuộc bộ nào cả” – ông Dũng nói.

Theo PGS.TS Đỗ Văn Dũng, hiện nay với gần cả ngàn trường CĐ do Bộ LĐ-TB&XH quản lý, toàn bộ giáo viên dạy nghề được đào tạo đều dạy tại các trường CĐ, CĐ nghề trực thuộc Bộ LĐ-TB&XH. Trong khi năm trường ĐH sư phạm kỹ thuật với hai hệ thống khác nhau: có ba trường trực thuộc Bộ LĐ-TB-XH và hai trường trực thuộc Bộ GD-ĐT.

Vì vậy, hai trường sư phạm kỹ thuật trực thuộc Bộ GD-ĐT không phục vụ ai nữa, đào tạo giáo viên dạy nghề ra không điều phối được. Trong khi hiện nay mảng đào tạo giáo viên dạy nghề bên Bộ GD-ĐT không được quan tâm khi các dự án trong những năm qua chỉ dành cho bảy trường sư phạm truyền thống.

Còn bên Bộ LĐ-TB&XH ít trường nên họ đầu tư lớn cho ba trường ĐH sư phạm kỹ thuật trực thuộc bộ này để đào tạo và bồi dưỡng giáo viên giáo dục nghề nghiệp, được hưởng nhiều dự án ODA về đào tạo giáo viên dạy nghề của các nước, nhất là của Đức và Nhật.

“Cả chục năm nay, Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM không được thừa hưởng một dự án nào, thậm chí không được mời dự các hội thảo quốc tế về dạy nghề đơn giản chỉ vì khác bộ chủ quản.

Thêm vào đó hai trường ĐH sư phạm kỹ thuật TP.HCM và Hưng Yên lại không được thụ hưởng các dự án ODA về dạy nghề của Chính phủ khi không nằm trong hệ thống của Tổng cục Dạy nghề” – ông Dũng cho biết.

Đồng thời, ông Dũng còn cho rằng các trường sư phạm kỹ thuật với thế mạnh của mình sẽ giúp các trường CĐ xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng đào tạo giáo viên theo chuẩn của Bộ LĐ-TB&XH.

Do vậy các trường sư phạm kỹ thuật phải cùng một hệ thống mới điều phối với nhau được. Từ đó các trường không cạnh tranh lẫn nhau, phân vùng ra để cung cấp nguồn nhân lực chứ không phải mạnh trường nào trường nấy làm như hiện nay.

“Hiện nay, Tổng cục Dạy nghề có nghề quốc tế, nghề khu vực, nghề quốc gia nên cần phân định ra trường nào đào tạo giáo viên cho ngành nghề, khu vực nào. Cần có một đầu mối đặt hàng cho từng trường sư phạm kỹ thuật đào tạo giáo viên giáo dục nghề nghiệp chứ không nên cạnh tranh lẫn nhau như hiện nay.

Đồng thời có khảo sát cụ thể nhu cầu nhân lực từng khu vực, dựa trên thế mạnh của từng trường để đào tạo nhân lực cho khu vực đó” – ông Dũng đề nghị.

Theo Trần Huỳnh – tuổi trẻ online

Continue Reading
Click to comment

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Giáo dục

Tỷ lệ bỏ học ở Đồng bằng sông Cửu Long cao nhất nước

Theo báo cáo phân tích ngành Giáo dục giai đoạn 2011 – 2015, tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi có xu hướng gia tăng ở cả 3 cấp học, tỷ lệ lưu ban và bỏ học có xu hướng giảm ở các cấp học. Đặc biệt tỷ lệ bỏ học ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cao nhất nước.

Published

on

Theo như kế hoạch mà ngành giáo dục đặt ra cho “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” là “đến năm 2020, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở tiểu học là 99%, THCS là 95%”.

Cụ thể, tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi năm học 2014 – 2015 ở cấp tiểu học là 98,69%, cấp THCS là 90,89%. Ở bậc Tiểu học, số liệu này đã tiệm cận với kế hoạch đặt ra trong Chiến lược phát triển giáo dục, có thể đạt được trong giai đoạn 2016 – 2020.

Ty le bo hoc o Dong bang song Cuu Long cao nhat nuoc - Anh 1

Tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi năm học 2014 – 2015 ở cấp tiểu học là 98,69%. Ảnh Xuân Diệp.

Đồng thời, tỷ lệ lưu ban và bỏ học có xu hướng giảm ở các cấp học, nhưng có sự khác biệt giữa các vùng miền, các vùng có điều kiện kinh tế kém phát triển hơn thì có tỷ lệ học sinh bỏ học cao hơn.

Trong cả nước, vùng Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ bỏ học ở cả 3 cấp học thấp nhất; tỷ lệ bỏ học cao nhất thuộc vê vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Số lượng trẻ khuyết tật đến trường tăng lên hằng năm, nhưng mục tiêu huy động 70% trẻ em khuyết tật đến trường trong chiến lược phát triển giáo dục có thể vẫn khó thực hiện được. Nhìn chung, học sinh khuyết tật trí tuệ được đánh giá là có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy học trong lớp và cần có biện pháp giáo dục phù hợp với nhóm học sinh này.

Đối với tiếp cận giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số, có thể thấy tỷ lệ nhập học chung của trẻ em dân tộc thiểu số (DTTS) cấp tiểu học không khác biệt lắm so với trẻ em dân tộc Kinh.

Tuy nhiên, ở cấp THCS, đặc biệt cấp THPT, tỷ lệ nhập học của trẻ em DTTS thấp hơn so với tỷ lệ này của trẻ em dân tộc Kinh.

Tỷ lệ nhập học đúng độ tuổi của trẻ em DTTS cũng có sự chênh lệch khá lớn so với của trẻ em dân tộc Kinh ở cấp THCS và THPT.

“Điều này cho thấy, cần tiếp tục quan tâm hơn nữa đối với việc huy động trẻ em DTTS, đặc biệt là dân tộc Khơ me và H’Mông”, báo cáo báo cáo kết quả phân tích ngành giáo dục nhận định.

Tuy nhiên, ngành giáo dục cũng gặp phải những rào cản như: Sự di dân nông thôn – thành thị và di chuyển lực lượng lao động trẻ đến các khu công nghiệp; lao động sớm, lao động trẻ em; sự thiếu quan tâm, kiểm tra, giám sát việc học tập của con cái của cha mẹ học sinh; ngôn ngữ và sự hiểu biết của cha mẹ học sinh người DTTS; tình trạng nghèo đói, kinh tế khó khăn.

Quy mô trường lớp chưa đáp ứng so với nhu cầu của học sinh trên một số địa bàn, đặc biệt ở các khu công nghiệp, đô thị; tình trạng biến đổi khí hậu ngày một khắc nghiệt và tác động của thiên tai.

Ty le bo hoc o Dong bang song Cuu Long cao nhat nuoc - Anh 2

Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thị Nghĩa.

Đánh giá về báo cáo phân tích ngành giáo dục phổ thông giai đoạn 2011 – 2015", Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thị Nghĩa cho biết: “Báo cáo phân tích ngành giáo dục giai đoạn 2011 – 2015, tập trung vào giáo dục phổ thông được thực hiện nhằm cung cấp kịp thời các minh chứng hỗ trợ Bộ GD-ĐT sơ kết thực hiện giai đoạn 1 (2011-2015) của Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2015. Trên cơ sở đó, rút ra những khuyến nghị điều chỉnh mục tiêu và các giải pháp phù hợp trong giai đoạn tiếp theo của chiến lược, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững”.

“Do nguồn lực và thời gian thực hiện có hạn, việc phân tích ngành chỉ giới hạn trong phạm vi phân tích giáo dục phổ thông với 3 nội dung chính là: Tiếp cận giáo dục, kết quả học tập của học sinh theo hướng phát triển năng lực và vấn đề đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục phổ thông giai đoạn 2011 – 2015”, thứ trưởng Nghĩa nhấn mạnh thêm.

Cũng tại buổi diễn đàn, Thứ trưởng Nghĩa cũng đưa ra một số khuyến nghị như:

Tăng cường khả năng tiếp cận giáo dục, đặc biệt là cho các đối tượng thiệt thòi, trẻ em khuyết tật, trẻ em nghèo… thông qua tăng cường cơ sở vật chất nhà trường, đa đạng hóa các hình thức giáo dục và khuyến khích sự tham gia cung cấp dịch vụ giáo dục từ các thể chế ngoài nhà nước.

Đổi mới giáo dục phổ thông, trong đó chú trọng đặc biệt tới đổi mới chương trình sao cho giáo dục phù hợp với nhu cầu thị trường và đẩy mạnh phân luồng và hướng nghiệp, đổi mới phương pháp dạy và học, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bô quản lý giáo dục, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học.

Đổi mới quản lý giáo dục, đặc biệt đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục, tăng cường hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo nhằm huy động nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực trong phát triển giáo dục.

Xuân Diệp

Continue Reading

Giáo dục

[ giáo viên bản ngữ ] Thầy giáo Việt phản đối việc cấm giáo viên bản ngữ gọi tên tiếng Anh

Published

on

By

“Hit the road” không phải cách nói mang tính bạo lực mà có nghĩa “lên đường”. 

Thầy giáo Nguyễn Xuân Quang, giáo viên dạy tiếng Anh, chia sẻ quan điểm về việc Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM quy định giáo viên bản ngữ phải gọi học sinh bằng tên tiếng Việt và tuyệt đối không đặt tên tiếng Anh cho học sinh.

Jackie Chan tên thật là gì? Chắc họa hoằn lắm mới có người biết “Chan Kong-sang”. Lý do Jackie đổi tên có lẽ vì tên tiếng Trung của ông thuộc diện khó đọc.
Không chỉ Jackie, rất nhiều người, khi tiếp xúc trong môi trường đa văn hóa, đã tạo ra nickname, hoặc thay đổi tên để tiện cho quá trình giao tiếp. 

Vậy mà Sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM lại có quy định cấm giáo viên bản ngữ gọi học sinh Việt Nam bằng nickname. Không nói những chuyện dễ hiểu lầm như Phúc, Dũng (Dung), Bích, những cái tên như Phương, Quyên, Ngọc đều rất khó phát âm với người nước ngoài.

Thiết nghĩ Sở Giáo dục và Đào tạo có cần thiết can thiệp vào từng hoạt động nhỏ trong các lớp học tiếng Anh không? Nên chăng những câu chuyện chuyên môn, làm thế nào tốt nhất cho học trò, hãy để giáo viên tiếng Anh đảm nhiệm.

Hơn thế, việc cấm gọi tên tiếng Anh của Sở khéo còn làm hại cho việc học của trẻ em. Thứ nhất, phải khẳng định rằng có một cái tên tiếng Anh không gây hại gì đến thuần phong mỹ tục mà phải cấm. Thứ hai, lựa chọn một cái tên tiếng Anh nhiều khi mang hiệu ứng tích cực về tâm lý cho học sinh. Học ngôn ngữ cũng là học văn hóa. Khi học tiếng Anh và có một cái tên tiếng Anh, học sinh sẽ cảm thấy tự tin hơn, gần gũi hơn với ngôn ngữ mình đang học. Do đó, việc học trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.

Về phía giáo viên, việc gọi học sinh bằng tên tiếng Anh, cái tên do chính học sinh lựa chọn, sẽ giúp họ xóa nhòa khoảng cách với học sinh. Thầy giáo là Jack thì học sinh là John. Và thay vì chú ý phát âm cho đúng tên của học sinh, giáo viên có thể tập trung nhiều hơn vào việc giảng dạy học sinh sao cho tốt nhất.

Một điểm khác trong quy định là cấm giáo viên bản ngữ sử dụng phương tiện nghe nhìn như CD, cat-set, máy tính… trong giảng dạy. Quy định này lợi bất cập hại. Thứ nhất, nó tạo ra sự phân biệt đối xử giữa giáo viên bản xứ và giáo viên bản địa. Thứ hai, nó ảnh hưởng đến hiệu quả học tập của học sinh khi học với thầy nước ngoài.

Một điểm nữa là yêu cầu các tiết học có giáo viên bản xứ phải có sự tham gia của giáo viên Việt Nam, nhưng không được sử dụng tiếng Việt. Quy định này khó hiểu ở hai điểm. Thứ nhất, tại sao lại phải có giáo viên Việt Nam giám sát? Điều này có nghĩa là giáo viên bản xứ không đảm bảo chất lượng? Nếu không đảm bảo chất lượng, sao còn cho giáo viên bản xứ đứng lớp?

Thứ hai, việc “cấm” sử dụng tiếng Việt trong lớp có thể không phù hợp với thực trạng giảng dạy. Mục tiêu cao nhất của giảng dạy không phải là giáo viên dùng 100% tiếng Anh, hay dùng song ngữ, mà là làm sao để học sinh tiếp thu được nhiều kỹ năng, kiến thức nhất có thể. Ở một số lớp, nếu các em đã giao tiếp tốt rồi, sử dụng 100% tiếng Anh có thể là tốt nhất. Ở các lớp khác, nếu học sinh ít hoặc gần như chưa tiếp xúc với giáo viên nước ngoài bao giờ, việc sử dụng song ngữ (tiếng Anh – tiếng Việt) sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.

Có rất nhiều bất cập trong quy định mới nhất của sở Giáo dục và Đào tạo TP HCM. Giáo dục là ngành đặc thù, do đó trước khi đưa ra bất kỳ quy định gì, có lẽ Sở nên tham khảo ý kiến của các bên liên quan bao gồm thầy cô giáo và học sinh, phụ huynh.

Và về mặt nguyên tắc, chất lượng chuyên môn hoặc hoạt động trong lớp học là nhiệm vụ của giáo viên và trường học. Còn nhiệm vụ của Sở Giáo dục là kiến tạo một môi trường giáo dục tốt nhất để mỗi thầy cô, trường học phát huy được tốt nhất lợi thế của mình, chứ không phải can thiệp vào các quyết định giảng dạy trong lớp của mỗi giáo viên.

Continue Reading

Giáo dục

[ Singapore ] Vì sao Singapore có đại học thuộc top đầu thế giới?

Published

on

By

Tham gia hội thảo học bổng du học Mỹ và Canada, bạn có cơ hội tìm hiểu thông tin du học và được miễn IELTS, TOEFL khi xét hồ sơ.

Theo University World News, nếu có bất kỳ đại học châu Á nào lọt vào top 10 thế giới, Đại học Công nghệ NanYang (NTU – Singapore) sẽ là ứng cử viên sáng giá nhất.

Trong bảng xếp hạng đại học thế giới Quacquarelli Symonds 2018 (QS) công bố ngày 8/6, NTU xếp thứ 11, tăng hai bậc so với năm ngoái, vị trí cao nhất mà một đại học châu Á từng đạt được. Thành tích này còn gây ấn tượng bởi NTU mới thành lập năm 1991. Đây cũng là trường tốt nhất trong top 50 đại học dưới 50 tuổi trong ba năm liền.

NTU thăng hạng chóng mặt trên bảng xếp hạng QS uy tín bậc nhất thế giới, nhảy 63 bậc kể từ năm 2010, leo 26 bậc từ năm 2015 để lên vị trí thứ 13 vào năm ngoái, trước khi theo sát top 10 năm nay.

[ Singapore ]  Vì sao Singapore có đại học thuộc top đầu thế giới?  3053

Đại học Công nghệ Nanyang xếp thứ 11 trong bảng xếp hạng QS 2018. Ảnh: Top Universities

Tuy nhiên, mỗi bảng xếp hạng sử dụng bộ tiêu chí và phương pháp đánh giá khác nhau, do đó việc xem xét bất kỳ đại học nào cũng đòi hỏi cân nhắc kỹ.

Theo bảng xếp hạng đại học thế giới Times Higher Education 2018 (THE) công bố ngày 5/9, NTU xếp thứ 52, tăng hai bậc so với năm ngoái. Đại học Quốc gia Singapore (NUS) được đánh giá cao hơn, ở vị trí thứ 22 năm nay.

Bảng xếp hạng này còn xếp NTU sau nhiều đại học châu Á khác, bao gồm Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc (thứ 27); Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc (thứ 30), Đại học Hong Kong, HKU (thứ 40); Đại học Khoa học và Công nghệ Hong Kong, HKUST (thứ 44); Đại học Tokyo, Nhật Bản (thứ 46) và Đại học Quốc gia Australia (thứ 48).

Trong khi đó, bảng xếp hạng ARWU của Đại học Thượng Hải (Trung Quốc) lại không xếp NTU vào top 100.

Richard Holmes, biên tập blog University Ranking Watch cho biết, một yếu tố trong việc thăng hạng của NTU có thể liên quan đến sự thay đổi trong phương pháp đánh giá của QS. Nếu so sánh điểm số của NTU trong bảng xếp hạng QS giai đoạn 2014-2015 với 2017-2018, hầu hết chỉ số đều giống nhau, chỉ trừ điểm số cho trích dẫn bài báo khoa học quốc tế trên mỗi giảng viên đã tăng đáng kể từ 42,6 lên 83,3.

Ông phân tích, điều này không phải do NTU đăng nhiều bài báo hơn hay được trích dẫn nhiều hơn mà do QS chuẩn hóa tiêu chí này từ năm 2015 để đảm bảo công bằng khi có sự chênh lệch số lượng ở các trường. Theo cách này, những cơ sở giáo dục mạnh về y khoa (NTU chỉ có một trường y) sẽ bị giảm điểm, trong khi những cơ sở mạnh về kỹ thuật và công nghệ như NTU sẽ được cải thiện điểm so với trước.

“Bạn có thể nói rằng NTU là một trong ba hoặc năm trường đại học hàng đầu châu Á, thậm chí hàng đầu thế giới về nghiên cứu kỹ thuật và công nghệ, nhưng về mọi thứ khác, đây không phải là trường tốt nhất ở Singapore”, ông nói. Phạm vi chuyên môn quá hẹp của NTU là một trong những lý do khiến ông đưa ra nhận định này.

Tập trung cải thiện các tiêu chí quan trọng

Trái ngược với quan điểm trên, giáo sư Bertil Andersson, chủ tịch NTU, người giành huy chương Wilhelm Exner năm 2010, chỉ ra rằng vị trí thứ 11 trên bảng xếp hạng QS là cao nhất mà một trường đại học trẻ trên thế giới từng đạt được. Theo ông, chìa khóa thành công nằm ở tư duy.

Vào tháng 6, khi bảng xếp hạng này được công bố, ông nói rằng NTU “nghiên cứu sâu hơn, thiết kế các chương trình học thuật sáng tạo và xây dựng các tòa nhà mới” trong một khoảng thời gian ngắn.

Andersson khẳng định sự thăng hạng của NTU trên các bảng xếp hạng thế giới được thúc đẩy bởi sự thành công của nó khi thu hút các giảng viên hàng đầu, nhà nghiên cứu hứa hẹn và sinh viên sáng giá nhất.

“Hiện nay, các nhà khoa học trẻ tiềm năng chiếm 8% giảng viên của trường nhưng sở hữu gần 40% số bài báo và trích dẫn của trong các tạp chí nghiên cứu hàng đầu. Tương lai của NTU có vẻ rất tích cực”, ông nói.

Trong bảng xếp hạng QS mới nhất này, giảng viên quốc tế của NTU tiếp tục đứng thứ 19 trên toàn thế giới, trong khi danh tiếng học thuật của trường được cải thiện ba vị trí, lên thứ 50. Số trích dẫn khoa học trên mỗi giảng viên tăng 7 bậc, lên thứ 57. Cải thiện rõ rệt nhất nằm ở tiêu chí danh tiếng người sử dụng lao động, tăng 10 bậc lên vị trí 38.

Hiện NTU dẫn đầu châu Á về mức ảnh hưởng của trích dẫn trong nghiên cứu, theo dữ liệu cung cấp bởi Clarivate Analytics, đồng thời xếp thứ tư thế giới về kỹ thuật và công nghệ theo đánh giá của QS.

Ben Sowter, giám đốc nghiên cứu tại tổ chức giáo dục QS nhận xét: “Sự lên ngôi của NTU là một minh chứng cho mô hình tài trợ tập trung, có chọn lọc, sự lãnh đạo mạnh mẽ và nhất quán, gắn bó với kế hoạch chiến thuật đầy tham vọng và cách tiếp cận triệt để về hợp tác quốc tế”.

Trường này có 400 nghiên cứu và dự án học tập kết hợp với các tổ chức trên toàn thế giới, bao gồm việc bắt tay với một hiệp hội Đan Mạch, Tổ chức Nghiên cứu Khoa học và Công nghiệp Khối thịnh vượng chung Australia và Đại học British Columbia (Canada) trong năm nay.

Ngoài những thành tích nổi bật về học thuật, NTU lọt vào danh sách 15 trường đại học có khuôn viên đẹp nhất thế giới. Đây là ngôi nhà chung của khoảng 33.000 sinh viên, 5.000 giảng viên và nhà nghiên cứu. Ngoài ra, NTU còn có cơ sở ở Novena – Trung tâm Y tế của Singapore.

[ Singapore ]  Vì sao Singapore có đại học thuộc top đầu thế giới?  3054

Tòa nhà Hive nổi tiếng về kiến trúc xanh của Đại học Công nghệ Nanyang. Ảnh: The Strait Times

Khác với những tòa nhà đơn điệu của đa số trường đại học, kiến trúc mang tính biểu tượng của NTU gây ấn tượng mạnh. Chẳng hạn, trường Nghệ thuật, Thiết kế và Truyền thông được đặt dưới những rãnh dốc màu xanh, cao từ hai đến năm tầng, bao quanh là khoảnh sân yên tĩnh, vòi phun và hồ nước.

Trong khi đó, trung tâm học tập của NTU (được biết đến với tên gọi Hive) với những khu vườn trên mái nhà, những tòa tháp bê tông không đồng tâm, hệ thống điều hòa không khí tiết kiệm năng lượng – nổi tiếng là bậc thầy trong kiến trúc xanh. 

Khả năng đổi mới không ngừng

Andersson nói rằng Singapore là đất nước tin tưởng vào tầm quan trọng của giáo dục và nghiên cứu, sẵn sàng đầu tư vào nó. Động thái của chính phủ nhằm tập trung vào giáo dục đại học từ năm 2006 cho phép các trường định hướng chiến lược riêng một cách linh hoạt.

Là một trong những đại học về kỹ thuật lớn nhất thế giới, NTU xây dựng danh tiếng vững chắc nhờ sự sáng tạo, đổi mới không ngừng trong lịch sử 26 năm ngắn ngủi. Hơn thế nữa, trường đại học này xây dựng được mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp. Chỉ trong vòng năm năm trở lại đây, NTU thiết lập các phòng thí nghiệm trên khuôn viên rộng 200 hecta của trường, liên kết với các hãng hàng đầu thế giới như Rolls Royce, BMW, Johnson Matthey, Lockheed Martin and ST Engineering.

NTU thử nghiệm một số xe tự lái đầu tiên trên thế giới, thực hiện các chuyến thám hiểm thường xuyên vào không gian với bảy vệ tinh theo quỹ đạo trái đất, trong đó vệ tinh gần đây nhất được phóng từ Trạm Không gian là vào tháng 1 năm nay.

Gần đây, các nhà khoa học của NTU cũng đã công bố về việc phát triển các tế bào năng lượng mặt trời mới được tạo ra từ “vật liệu kỳ diệu” Perovskite có thể làm thay đổi tích cực ngành công nghiệp năng lượng tái tạo.

[ Singapore ]  Vì sao Singapore có đại học thuộc top đầu thế giới?  3055

Hệ thống phương tiện không người lái đầu tiên của Singapore được thử nghiệm ở Đại học Công nghệ Nanyang. Ảnh: News Detail

Ngoài ra, NTU tự hào có thế mạnh phong phú từ kỹ thuật, khoa học, kinh doanh đến giáo dục, nhân văn, nghệ thuật và khoa học xã hội. Trường Kinh doanh Nanyang thường xuyên được giới thiệu là một trong những trường hàng đầu châu Á về lĩnh vực này, với chương trình MBA được tờ The Economist đánh giá tốt nhất Singapore kể từ năm 2004.

Viện Giáo dục Quốc gia (NIE) thuộc Đại học Công nghệ Nanyang là cơ sở đào tạo giáo viên duy nhất tại Singapore. Chất lượng giáo viên được đánh giá rất cao, thể hiện qua việc học sinh Singapore có kết quả các kỳ thi chuẩn hóa cao nhất thế giới.

Một trong những điểm mạnh khác của NTU là việc cam kết cung cấp môi trường nước ngoài cho học sinh khám phá. Mục tiêu của đại học này là đảm bảo 80% sinh viên có ít nhất một trải nghiệm học tập ở nước ngoài, dù là chương trình trao đổi sinh viên, thực tập, đi thực địa hay khóa học hè. Vào NTU, sinh viên có cơ hội học tập một năm ở Đại học California, Berkeley, Đại học Northwestern, Imperial College London hoặc Đại học British Columbia; thực tập tại Thung lũng Silicon và các khu vực khác của Mỹ hoặc châu Âu.

Năm 2010, NTU kết hợp với Imperial College London thành lập một trường y khoa nhằm giảm bớt tình trạng thiếu bác sĩ của Singapore. Lứa sinh viên y khoa đầu tiên của NTU sẽ tốt nghiệp vào năm sau.

Continue Reading

Trending