Connect with us

Giáo dục

[ Thổ Nhĩ Kỳ ] Trường Thổ Nhĩ Kỳ dạy cách đối phó với người ngoài hành tinh

Published

on

Ngoài bảng điểm, chứng chỉ, bài luận bàn cần ghi điểm với nhà tuyển sinh bằng câu chuyện riêng của bản thân mình khi làm hồ sơ. …

Đại học Akdeniz ở tỉnh Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ mới đưa vào chương trình giảng dạy một khóa học mang tên “Ufology and Exopolitics”, có nghĩa nghiên cứu về UFO và chính sách đối với các hiện tượng, sinh vật ngoài trái đất. Theo Oddity Central ngày 29/11, mục đích của khóa học là giúp sinh viên sẵn sàng hoan nghênh du khách từ không gian theo cách thích hợp.

Giảng viên Erhan Kolbaşi của trường tin người ngoài hành tinh đã đáp xuống trái đất nhiều lần. Ông trả lời tờ Dogan News Agency rằng bên cạnh kiến thức ngoại giao giữa các vì sao, sinh viên sẽ được tìm hiểu về những cáo buộc của chính phủ về hoạt động của người ngoài hành tinh trên trái đất.

[ Thổ Nhĩ Kỳ ]  Trường Thổ Nhĩ Kỳ dạy cách đối phó với người ngoài hành tinh  3521

Nghiên cứu về UFO và người ngoài hành tinh được đưa vào chương trình dạy của trường đại học ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ảnh: Wikimedia Commons

Kolbaşi, người từng giữ chức Phó chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Không gian UFO Sirius ở Istanbul, cho biết cáp quang, vi mạch và thiết bị quan sát ban đêm là những công nghệ con người có được nhờ thông tin thu thập tại các địa điểm rơi UFO.

“Chúng tôi tin rằng đại diện của thế giới và các nền văn minh ngoài trái đất sẽ sớm liên hệ chính thức với nhau. Đó sẽ là thay đổi lớn nhất từng thấy trong lịch sử thế giới”, Kolbaşi nói và kỳ vọng rằng việc này xảy ra trong 10-15 năm tới.

Vị giảng viên đổ lỗi cho một đối tượng cụ thể đã tước đoạt thông tin liên quan đến hoạt động của người ngoài hành tinh trên trái đất. Ông chỉ ra đó là Majestic 12 (MJ-12), một tổ chức bí mật đã bằng mọi giá giữ kín những chuyến viếng thăm từ ngoài không gian.

Giáo dục

[ Đại học Kinh doanh và Công nghệ ] ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội: ‘Báo cáo của Bộ Giáo dục không chính xác’

Published

on

By

Ngoài bảng điểm, chứng chỉ, bài luận bàn cần ghi điểm với nhà tuyển sinh bằng câu chuyện riêng của bản thân mình khi làm hồ sơ. …

Ngày 2/12, GS Đinh Văn Tiến, Hiệu phó Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, cho rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo “đưa thông tin không chính xác” về việc trường không hợp tác để các Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục thẩm định và xác nhận điều kiện đảm bảo chất lượng.

Khoảng tháng 4/2017, Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Đại học Đà Nẵng) điện thoại cho Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trao đổi về việc kiểm định. Tuy nhiên, theo Hiệu phó Tiến, thời điểm này trường đang thẩm định nội bộ nên chưa thể thực hiện đánh giá bên ngoài ngay. 

Mặt khác, trung tâm kiểm định mà Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội muốn mời là Đại học Quốc gia Hà Nội. Đơn vị này, theo đánh giá của trường là “có chất lượng, uy tín hơn” và 10 năm trước từng giúp Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội kiểm định chất lượng giáo dục.

[ Đại học Kinh doanh và Công nghệ ]  ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội: 'Báo cáo của Bộ Giáo dục không chính xác'  3516

Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: Bá Đô.

Sau khi gửi công văn trả lời tới Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục – Đại học Đà Nẵng, tháng 6/2017 Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tiếp tục gửi công văn đến Bộ Giáo dục và Đào tạo để “nói rõ sự tình”. Văn bản này nêu rõ trường “sẽ mời tổ chức đánh giá ngoài vào năm 2018”, theo tiêu chuẩn mới Bộ đề ra ở Thông tư 12.

Hiệu phó Đinh Văn Tiến cho biết thêm, tháng 9 vừa qua đã làm việc với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội và gửi văn bản đề nghị họ thẩm định, xác nhận điều kiện đảm bảo chất lượng cho trường vào tháng 6/2018.

“Trong khi trường muốn nâng cao chất lượng kiểm định và hoàn toàn có quyền lựa chọn đơn vị kiểm định uy tín trong và ngoài nước thì Bộ Giáo dục lại đưa ra một thông báo không chính xác và thiếu tính xây dựng”, GS Tiến chia sẻ. 

Trước đó ngày 29/11, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra thông báo có 208 đại học được thẩm định và xác nhận các điều kiện đảm bảo chất lượng năm 2017. 24 cơ sở giáo dục đại học khác do được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục trước ngày 15/4 nên được miễn thẩm định.

“Cá biệt có hai cơ sở giáo dục đại học là trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, trường Đại học Tôn Đức Thắng không hợp tác để các Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục thực hiện việc thẩm định và xác nhận các điều kiện đảm bảo chất lượng”, thông báo nêu.

Ngày 1/12, đại diện Đại học Tôn Đức Thắng đã bác bỏ kết luận này và lý giải “đã lựa chọn đơn vị kiểm định nước ngoài”.

Ngày 27/3, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kế hoạch triển khai công tác thẩm định và xác nhận các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục đại học năm 2017, thời hạn đến 30/6. Kết quả thẩm định là dữ liệu quan trọng nhằm cung cấp thông tin cho các chủ thể liên quan, như: người học, nhà trường và cơ quan quản lý tham khảo.

Bốn tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục bao gồm: Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam), Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Đại học Đà Nẵng) và Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Đại học Quốc gia TP HCM).

Nội dung kiểm định gồm: diện tích đất, sàn xây dựng; thư viện, trung tâm học liệu; quy mô sinh viên, đội ngũ giảng viên cơ hữu.

Continue Reading

Giáo dục

[ triều đại duy nhất ] Triều đại duy nhất có chính sách khuyến học với dân tộc ít người

Published

on

By

Ngoài bảng điểm, chứng chỉ, bài luận bàn cần ghi điểm với nhà tuyển sinh bằng câu chuyện riêng của bản thân mình khi làm hồ sơ. …

Là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, nhà Nguyễn giai đoạn độc lập (1802-1958) làm chủ lãnh thổ từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, gồm cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Lựa chọn Nho giáo làm học thuyết trị nước, triều Nguyễn xây dựng mô hình giáo dục mô phỏng theo Trung Hoa.

Chương trình học tập phân thành tiểu học (dành cho trẻ từ 6 đến 10 tuổi) và đại học (từ 10 tuổi trở lên, có vốn tri thức tương đối). Học trò học Tứ Thư, Ngũ Kinh, sau đó trải qua các kỳ thi lần lượt là Hương, Hội và Đình.

Theo Lịch sử Việt Nam tập 5, chương trình, phương thức dạy và học, thi cử của triều Nguyễn vẫn theo lối khoa cử sáo mòn từ nhiều thế kỷ trước. Điểm vượt trội là đã thực hiện chính sách giáo dục đối với các dân tộc ít người. Nhà Nguyễn là vương triều đầu tiên và duy nhất trong lịch sử trung đại triển khai việc này. 

Chính sách giáo dục đối với dân tộc ít người được vua Minh Mệnh (còn gọi là Minh Mạng) thiết kế, vua kế nhiệm Thiệu Trị, Tự Đức thực thi với mục tiêu xây dựng nền Nho học thống nhất cả nước, không phân biệt người Kinh với người thiểu số, không phân biệt đẳng cấp, xóa bỏ dần hủ nạn, cục bộ ở vùng xa. 

[ triều đại duy nhất ]  Triều đại duy nhất có chính sách khuyến học với dân tộc ít người  3518

Triều Nguyễn duy trì hệ thống trường công và trường tư. Trường tư do các thầy đồ tự mở, quy mô nhỏ. Ảnh tư liệu. 

Triều đình xây dựng hệ thống học đường quy mô vừa và nhỏ với mạng lưới giáo chức đông đảo rải khắp địa bàn dân tộc thiểu số (trừ vùng Thủy Xá, Hỏa Xá ở Tây Nguyên). Ở vùng xa của các tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận, Vĩnh Long, Hà Tiên, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn…, triều đình bố trí các giáo thụ (phụ trách học tập của một phủ), huấn đạo (quản lý học tập của một huyện) chuyên trách cho phủ, huyện, hoặc cụm huyện tùy theo nhu cầu của từng địa phương.

Việc tuyển giáo chức được triều đình coi trọng. Lịch sử Việt Nam tập 5 chép lại lời vua Minh Mệnh: “Hạ lệnh cho các tỉnh phải xét kỹ học hạnh của giáo chức được học trò tin theo, hoặc người nào học thức cạn hẹp không kham nổi chức vụ, phải soi xét phân biệt mà tâu lên, đợi trẫm cách bãi hoặc thăng chức. Nếu có nơi nào thiếu, cần phải tuyển bổ, nên chọn người lớn tuổi học giỏi sung vào”. 

Đến triều Thiệu Trị, hoạt động giáo dục ở một số huyện vùng cao phía Bắc đã có bước chuyển quan trọng. Theo tấu trình của Thự Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên Nguyễn Đăng Giai, ở Tuyên Quang vì “nhiều người thổ mục muốn cho con em theo học” nên xin dựng nhà học của tỉnh và đặt giáo thụ để giảng tập. Điều này chứng tỏ học lực của một số học trò người dân tộc đã vượt xa trình độ phổ cập tiểu học – mục tiêu ban đầu của triều đình.

Năm 1838, vua Minh Mệnh có dụ thể hiện rõ chính sách khuyến khích giáo dục vùng dân tộc thiểu số phía bắc. Các thổ huyện, châu ở Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hưng Hóa (nay là Phú Thọ, Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình), Quảng Yên (nay là Quảng Ninh) đều đặt quan cai trị, mục đích muốn “nhân dân vùng đó hun đúc, tiêm nhiễm, trông nhau làm nên để có đường tiến thân”.

“Những người vui lòng dựa vào triều đình để xem phong hóa, tưởng cũng chẳng thiếu gì. Nay cho thượng ty các tỉnh ấy xét trong hạt, không cứ con em thổ quan hay nhà dân, cũng không cứ học đủ văn thể ba trường, ai là người tuấn tú thông minh, cho được vào kinh, giao cho quan Quốc tử giám dạy cho học tập”, sách Lịch sử Việt Nam chép.  

Những cá nhân ưu tú vùng dân tộc ít người được gọi là Ân cống sinh, được cấp lương ăn học ở Quốc tử giám (đặt ở kinh thành Huế), cùng với Tôn sinh, Ấm sinh (người của hoàng tộc, con quan lại). Năm 1844, Quốc tử giám có một học sinh Cao Bằng, hai người Lạng Sơn, một người Tuyên Quang, một người Hưng Hóa và một người Thái Nguyên. 

Đây là lần đầu tiên trong thành phần học sinh Quốc tử giám có thêm diện ưu đãi là con em vùng dân tộc ít người, không phân biệt xuất thân. 

[ triều đại duy nhất ]  Triều đại duy nhất có chính sách khuyến học với dân tộc ít người  3519

Quốc tử giám ở Huế, nơi một số con em đồng bào dân tộc được theo học. Ảnh: Võ Thạnh.

Học ngôn ngữ dân tộc thiểu số 

Ngoài việc khuyến học ở vùng dân tộc thiểu số, nhằm quản lý trực tiếp và thay đổi dần bộ mặt của vùng miền núi trên mọi phương diện, vua Minh Mệnh trú trọng đào tạo đội ngũ quan chức người dân tộc thiểu số biết chữ Hán và người Kinh biết chữ dân tộc. 

Năm 1836, vua cho tìm người người Kinh biết chữ Hán, lại am tường chữ Chiêm, chữ Ni để mở lớp dạy tiếng dân tộc. Tại các tỉnh Bình Thuận, Hà Nội, Tuyên Quang, chọn tuyển học sinh học chữ và tiếng của người Chiêm, người Ni, Thanh, Thổ.

Ở Vĩnh Long, An – Hà, quan địa phương được lệnh tìm chọn những người minh mẫn, biết chữ Hán, cho học chữ Miên. Ở vùng rừng núi Nghệ An, triều đình xuống chỉ cho chiêu mộ những người thông hiểu tiếng dân tộc thiểu số trong hạt, điều về kinh để dạy tiếng và làm việc công. Ở biên giới phía Bắc, quan tỉnh Tuyên Quang Trần Ngọc Lâm đã mở lớp ở huyện Để Định, Vĩnh Điện. Lớp này do thầy giáo người Thổ dạy cho 5-6 học ính người bản hạt.

Với số lượng trường, lớp tăng tiến nhanh chóng, phân bổ khắp địa bàn từ miền xuôi đến miền ngược và các khoa thi mở liên tục, triều Nguyễn giai đoạn độc lập tự chủ đã tạo ra nguồn nhân lực dồi dào dùng cho bộ máy công quyền. 

Continue Reading

Giáo dục

Những mặt trái của xếp hạng đại học

Published

on

By

Đánh giá xếp hạng đại học trên thế giới là việc khó khăn, có nhiều bất cập và gây nhiều tranh cãi. Ở đây tôi xin liệt kê một số vấn đề chính đã được đưa ra.

Trước hết là khó khăn, tốn kém trong việc thu thập số liệu sao cho đầy đủ, chính xác. Một hướng giải quyết khá thú vị là yêu cầu các trường được đánh giá tự nộp số liệu. Các đơn vị đánh giá chỉ kiểm tra xem số liệu đó có đầy đủ và trung thực không, chấm điểm minh bạch cho số liệu đó, thì đỡ tốn công hơn nhiều so với phải tự đi tìm. Trừ điểm (hoặc không cho vào danh sách đánh giá) những trường nào đưa thiếu số liệu, hay bị phát hiện không trung thực.

Thứ hai là khó khăn trong việc so sánh giữa các ngành, vì đặc thù của chúng. Ví dụ trong ngành khoa học cơ bản thì nghiên cứu chủ yếu đăng tạp chí; ngành công nghệ thông tin thì nghiên cứu lại đăng ở kỷ yếu hội thảo khoa học; còn ngành xã hội thì công trình khoa học sáng giá lại chủ yếu viết dưới dạng sách.

Chỉ số năng suất nghiên cứu khoa học mà chỉ dựa trên số bài báo sẽ bị thiên lệch về khoa học cơ bản, các ngành khác bị coi nhẹ đi. Việc đưa ra một chỉ số đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học sao cho cân bằng giữa các ngành là rất khó.

Các chỉ số dựa trên giá trị tuyệt đối có nguy cơ “lấy thịt đè người”. Ví dụ ba trường A, B, C có số công trình khoa học một năm tương ứng là 2.000, 1.500, 1.000, thì trường nào tốt hơn về nghiên cứu khoa học (tạm coi là công trình có giá trị tương đương)? Nếu chỉ tính theo giá trị tuyệt đối thì A là tốt nhất. Nhưng nếu đánh giá theo cả quy mô của mỗi trường, ví dụ A có 4.000 giảng viên còn C có 1.000 giảng viên, thì sẽ thấy là số công trình khoa học trên đầu giảng viên của A chỉ là 0,5 còn của C là 1. Như vậy C phải tốt hơn A.

Trong “danh sách Thượng Hải” có những chỉ số dựa trên giá trị tuyệt đối như vậy, dẫn đến trường có quy mô rất to nhưng chất lượng vừa phải lại được xếp hạng trên trường có chất lượng rất cao nhưng có số người hạn chế. Điều này dẫn tới một xu hướng mang tính rất hình thức ở một số nơi như Pháp là sáp nhập các trường với nhau cho phình to ra để được xếp hạng cao hơn, kể cả khi việc đó chẳng hề làm tăng chất lượng của trường mà chỉ tạo thêm một tầng quan liêu.

Bên cạnh đó, còn có sự tùy tiện trong việc tính hệ số cho các tiêu chí. Giả sử xếp hạng dựa trên 3 điểm khác nhau tổng hợp lại theo ba tiêu chí a, b, c. Trường A có điểm a= 3, b=4, c= 5; trường B có a=4, b=5, c=3; trường C có a=5, c=3, b=4, thử hỏi trường nào xếp hạng cao hơn trường nào? Nếu tổ chức đánh giá cho tiêu chí a 40% số điểm, b 30% và c 30% thì C xếp hạng cao nhất trong ba trường A, B, C; còn nếu cho a 30% số điểm, b 35% số điểm và C 35% số điểm thì C lại thành xếp hạng bét trong ba trường A, B, C.

Như vậy, bảng xếp hạng rất phụ thuộc vào việc tổ chức đánh giá phân hệ số bao nhiêu cho mỗi tiêu chí. Và cuộc tranh cãi “tiêu chí nào cần cho hệ số bao nhiêu mới đúng” sẽ không bao giờ có người thắng cuộc. Bởi vậy các bảng xếp hạng khác nhau sẽ luôn cho các bảng thứ tự khác nhau. Chưa kể đến có những tiêu chí được tính trong bảng xếp hạng này lại hoàn toàn không được tính (hệ số = 0) trong bảng khác.

GS Nguyễn Tiến Dũng.

Khi một bảng xếp hạng nặng về các tiêu chí có tính chất quá khứ, ví dụ số cựu học sinh được giải Nobel (thường là phải học tại trường từ hàng chục năm trước đó) thì có lợi cho các trường có quá khứ huy hoàng, nhưng đang xuống dốc. Trong khi các trường đang mạnh lên có điều kiện tốt hơn lại bị thiệt thòi về thứ hạng. Sự lệch lạc này không có lợi cho những người muốn chọn nơi tốt nhất để học và để làm việc.

Một số tiêu chí về “phỏng vấn uy tín” vừa mang tính quá khứ vừa khó xác định mức độ khách quan và minh bạch. Phỏng vấn ai, tại sao lại chỉ chọn những người đó, và những người trả lời có đại diện thật sự cho ý kiến chung của toàn bộ cộng đồng hay không?

Một thực trạng nữa là các trường sẽ chạy đua theo xếp hạng, chỉ chú trọng các tiêu chí có trong xếp hạng mà bỏ rơi rất nhiều yếu tố khác tạo nên một đại học tử tế. Đây là điều xảy ra trên thực tế và là một trong những “tác dụng phụ” đáng lo ngại nhất của các bảng xếp hạng.

Một số vấn đề trên đủ để cho thấy việc xếp hạng là một việc khó khăn, gây nhiều tranh cãi, và không bao giờ có thể thống nhất được. 

Chỉ 5% đại học lọt vào bảng xếp hạng đại học thế giới

Hiện có rất nhiều tổ chức công và tư tham gia vào việc đánh giá xếp hạng đại học. 

Nổi tiếng nhất

 là The Academic Ranking of World Universities (ARWU) do Đại học Giao thông Thượng Hải (Shanghai Jiao Tong University) thực hiện (còn được gọi là “danh sách Thượng Hải”), Times Higher Education World University Rankings của tạp chí Times Higher Education (THE) ở London, và QS World University Rankings do Quacquarelli Symonds thực hiện từ năm 2004 ở Anh.

Thế giới có hơn 16.000 trường đại học, nhưng chỉ khoảng 5% trong số đó được coi là có “đẳng cấp quốc tế” và lọt vào danh sách của ba bảng xếp hạng trên. Danh sách xếp hạng ở mức “địa phương” thì có thêm nhiều trường.

GS Nguyễn Tiến Dũng
Đại học Toulouse, Pháp

Continue Reading

Trending