Connect with us

Giáo dục

Thầy giáo dạy 16 năm làm đơn xin ra khỏi biên chế: Vì nghề bạc bẽo quá?

“Nghề này bạc bẽo quá, sự tôn trọng đối với nghề chẳng còn nữa nên tôi xin ra khỏi biên chế giáo dục không chút nuối tiếc. Tôi nghĩ rằng, nếu mình là người có năng lực, chẳng việc gì phải bám lấy hai từ “biên chế” mà đày đọa bản thân”. Đó là tâm sự của thầy Đoàn Hùng Cường- thạc sĩ Lý luận văn học, giáo viên ngữ văn Trường PTDT Nội trú huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh có thâm niên 16 năm dạy học.

Published

on

Phòng trọ khi thầy Đoàn Hùng Cường còn công tác tại Trường THPT Nội trú huyện Bình Liêu – Ảnh: Infonet

“Đến tháng 8 vừa qua tôi đã viết đơn xin ra khỏi biên chế ngành giáo dục. 16 năm đứng trên bục giảng tôi đã chứng kiến quá nhiều bất cập của ngành, khao khát thay đổi nhưng lực bất tòng tâm.”- thầy Cường viết.

Thầy Cường cũng chia sẻ: Yêu nghề ư? Tất nhiên là yêu chứ. Thế nhưng làm sao có thể yêu mãi được khi đồng lương chỉ vẻn vẹn vài triệu, vợ con nheo nhóc, bố mẹ già thì khổ sở. Tôi dạy cách xa nhà gần 130 km, tuần nào cũng phải đi đi về về thăm con và bố mẹ. Tôi có hai đứa con, một đứa 3 tuổi, một đứa 5 tuổi, vợ không nghề nghiệp, bố mẹ lại già. Bản thân lại bị bệnh hen, bị khó thở…nhiều đêm không thở được nhưng một mình vẫn phải vật lộn. Tôi mong muốn được chuyển công tác về gần nhà nhưng xin mãi không được.

“Nghề này bạc bẽo quá, sự tôn trọng đối với nghề chẳng còn nữa nên tôi xin ra khỏi biên chế giáo dục không chút nuối tiếc. Tôi nghĩ rằng, nếu mình là người có năng lực, chẳng việc gì phải bám lấy hai từ "biên chế" mà đày đọa bản thân"- Thầy Cường chia sẻ.

Nói nghề giáo “bạc bẽo” là không chuẩn?

Ông Nguyễn Quốc Vương, Nghiên cứu sinh ngành giáo dục lịch sử, Đại học Kanazawa (Nhật Bản) cho rằng, thầy làm đơn nói "nghề này bạc bẽo" là không chuẩn.

“Thầy phải nói cơ chế-chính sách đối với một số nhà giáo hiện tại chưa đảm bảo sự công bằng“- ông Vương nhấn mạnh.

Ông Vương cũng cho rằng, trường hợp như thầy giáo này không phải cá biệt. Ở địa phương nào cũng sẽ có những thầy giáo gặp hoàn cảnh khó khăn như thế, bị đối xử như thế, thậm chí tệ hơn.

“Có điều dũng cảm dám từ bỏ nghề khi không cảm thấy hài lòng và dám nói ra thẳng thắn như thầy thì không phải ai cũng làm được”- Ông Vương quan điểm.

Cơ chế hiện tại làm cho giáo viên có lương tâm buồn bã, mỏi mệt.

Ông Vương cho rằng, thầy giáo này lương có thể thấp nhưng là giáo viên trong biên chế. Khi trong biên chế ngày lễ, tết thầy nghỉ vẫn có lương. Ốm đau có bảo hiểm. Đi họp vẫn có “vai). vế”. Khổ nhất phải là các giáo viên “ngoài biên chế” đó là giáo viên hợp đồng. Các giáo viên này hưởng thù lao theo kiểu “dạy tiết nào ăn tiết ấy”. Mỗi tiết dạy có thể chỉ 50-60 ngàn đồng mà số lượng không nhiều.

Cũng theo ông Vương, thầy giáo này dạy môn Văn, môn học được cả xã hội coi là “môn chính” nên vị thế của thầy ít nhiều còn có chứ nếu thầy cô dạy “Sử”, “Địa”, “Thể dục”, “mĩ thuật”… thì sẽ khổ nữa về mặt tinh thần. Giáo viên nào vừa là giáo viên “môn phụ” vừa có thân phận “giáo viên hợp đồng” thì khổ lắm! Khổ cả vật chất lẫn khổ tâm. Những nỗi khổ mà người ngoài ít người hiểu. Đi họp đến cả ngồi cũng phải rón rén!

"Chế độ đãi ngộ với nhà giáo có tác động lớn đối với cái nhìn của xã hội với nghề. Nhưng đừng nên hiểu đãi ngộ tốt đơn giản là lương cao"- ông Vương nói.

“Quan trọng hơn và quan trọng đầu tiên là phải công bằng. Phải có cơ chế tuyển dụng minh bạch, công bằng. Cần phải trả lương đúng năng lực, trình độ, phẩm chất, uy tín của giáo viên thay vì “cá mè một lứa” hay giao phó sự đánh giá đó cho vài người. Công bằng, minh bạch sẽ thúc đẩy sáng tạo cũng như sự lương thiện và ngược lại”- ông Vương nhấn mạnh.

Ông Vương phân tích, cơ chế hiện tại làm cho giáo viên có lương tâm buồn bã và giáo viên trẻ dễ cảm thấy mỏi mệt. Cơ chế ấy đã khiến cho giáo viên phải làm đủ nghề để sống nếu như muốn đảm bảo cuộc sống và giữ cho mình lương thiện ở mức tối thiểu có thể.

Một số thầy cô dạy một số môn như Toán, Văn, Anh… vẫn có thể có thu nhập tốt từ dạy thêm. Dạy thêm chẳng có gì xấu và nhiều thầy cô rất giỏi nên có thể sống đàng hoàng. Nhưng không phải thầy cô nào cũng may mắn thế. Một số giáo viên lâu năm cũng có thể sống được bằng lương. Tuy nhiên, đấy chi là đáp số cho “các bài toán cá nhân”, vấn đề đặt ra là cơ chế-chính sách cho toàn bộ giáo viên.

“Hiện thực đó làm học sinh e ngại vì thế nhiều em giỏi không thi vào nghề sư phạm”- Ông Vương khẳng định.

Đỗ Hợp

Giáo dục

[ Đại học Kinh doanh và Công nghệ ] ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội: ‘Báo cáo của Bộ Giáo dục không chính xác’

Published

on

By

Ngoài bảng điểm, chứng chỉ, bài luận bàn cần ghi điểm với nhà tuyển sinh bằng câu chuyện riêng của bản thân mình khi làm hồ sơ. …

Ngày 2/12, GS Đinh Văn Tiến, Hiệu phó Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, cho rằng Bộ Giáo dục và Đào tạo “đưa thông tin không chính xác” về việc trường không hợp tác để các Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục thẩm định và xác nhận điều kiện đảm bảo chất lượng.

Khoảng tháng 4/2017, Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Đại học Đà Nẵng) điện thoại cho Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trao đổi về việc kiểm định. Tuy nhiên, theo Hiệu phó Tiến, thời điểm này trường đang thẩm định nội bộ nên chưa thể thực hiện đánh giá bên ngoài ngay. 

Mặt khác, trung tâm kiểm định mà Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội muốn mời là Đại học Quốc gia Hà Nội. Đơn vị này, theo đánh giá của trường là “có chất lượng, uy tín hơn” và 10 năm trước từng giúp Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội kiểm định chất lượng giáo dục.

[ Đại học Kinh doanh và Công nghệ ]  ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội: 'Báo cáo của Bộ Giáo dục không chính xác'  3516

Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. Ảnh: Bá Đô.

Sau khi gửi công văn trả lời tới Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục – Đại học Đà Nẵng, tháng 6/2017 Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tiếp tục gửi công văn đến Bộ Giáo dục và Đào tạo để “nói rõ sự tình”. Văn bản này nêu rõ trường “sẽ mời tổ chức đánh giá ngoài vào năm 2018”, theo tiêu chuẩn mới Bộ đề ra ở Thông tư 12.

Hiệu phó Đinh Văn Tiến cho biết thêm, tháng 9 vừa qua đã làm việc với Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội và gửi văn bản đề nghị họ thẩm định, xác nhận điều kiện đảm bảo chất lượng cho trường vào tháng 6/2018.

“Trong khi trường muốn nâng cao chất lượng kiểm định và hoàn toàn có quyền lựa chọn đơn vị kiểm định uy tín trong và ngoài nước thì Bộ Giáo dục lại đưa ra một thông báo không chính xác và thiếu tính xây dựng”, GS Tiến chia sẻ. 

Trước đó ngày 29/11, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra thông báo có 208 đại học được thẩm định và xác nhận các điều kiện đảm bảo chất lượng năm 2017. 24 cơ sở giáo dục đại học khác do được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục trước ngày 15/4 nên được miễn thẩm định.

“Cá biệt có hai cơ sở giáo dục đại học là trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, trường Đại học Tôn Đức Thắng không hợp tác để các Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục thực hiện việc thẩm định và xác nhận các điều kiện đảm bảo chất lượng”, thông báo nêu.

Ngày 1/12, đại diện Đại học Tôn Đức Thắng đã bác bỏ kết luận này và lý giải “đã lựa chọn đơn vị kiểm định nước ngoài”.

Ngày 27/3, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kế hoạch triển khai công tác thẩm định và xác nhận các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục đại học năm 2017, thời hạn đến 30/6. Kết quả thẩm định là dữ liệu quan trọng nhằm cung cấp thông tin cho các chủ thể liên quan, như: người học, nhà trường và cơ quan quản lý tham khảo.

Bốn tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục bao gồm: Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Hiệp hội các trường đại học, cao đẳng Việt Nam), Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Đại học Đà Nẵng) và Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục (Đại học Quốc gia TP HCM).

Nội dung kiểm định gồm: diện tích đất, sàn xây dựng; thư viện, trung tâm học liệu; quy mô sinh viên, đội ngũ giảng viên cơ hữu.

Continue Reading

Giáo dục

[ triều đại duy nhất ] Triều đại duy nhất có chính sách khuyến học với dân tộc ít người

Published

on

By

Ngoài bảng điểm, chứng chỉ, bài luận bàn cần ghi điểm với nhà tuyển sinh bằng câu chuyện riêng của bản thân mình khi làm hồ sơ. …

Là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, nhà Nguyễn giai đoạn độc lập (1802-1958) làm chủ lãnh thổ từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, gồm cả Đàng Trong và Đàng Ngoài. Lựa chọn Nho giáo làm học thuyết trị nước, triều Nguyễn xây dựng mô hình giáo dục mô phỏng theo Trung Hoa.

Chương trình học tập phân thành tiểu học (dành cho trẻ từ 6 đến 10 tuổi) và đại học (từ 10 tuổi trở lên, có vốn tri thức tương đối). Học trò học Tứ Thư, Ngũ Kinh, sau đó trải qua các kỳ thi lần lượt là Hương, Hội và Đình.

Theo Lịch sử Việt Nam tập 5, chương trình, phương thức dạy và học, thi cử của triều Nguyễn vẫn theo lối khoa cử sáo mòn từ nhiều thế kỷ trước. Điểm vượt trội là đã thực hiện chính sách giáo dục đối với các dân tộc ít người. Nhà Nguyễn là vương triều đầu tiên và duy nhất trong lịch sử trung đại triển khai việc này. 

Chính sách giáo dục đối với dân tộc ít người được vua Minh Mệnh (còn gọi là Minh Mạng) thiết kế, vua kế nhiệm Thiệu Trị, Tự Đức thực thi với mục tiêu xây dựng nền Nho học thống nhất cả nước, không phân biệt người Kinh với người thiểu số, không phân biệt đẳng cấp, xóa bỏ dần hủ nạn, cục bộ ở vùng xa. 

[ triều đại duy nhất ]  Triều đại duy nhất có chính sách khuyến học với dân tộc ít người  3518

Triều Nguyễn duy trì hệ thống trường công và trường tư. Trường tư do các thầy đồ tự mở, quy mô nhỏ. Ảnh tư liệu. 

Triều đình xây dựng hệ thống học đường quy mô vừa và nhỏ với mạng lưới giáo chức đông đảo rải khắp địa bàn dân tộc thiểu số (trừ vùng Thủy Xá, Hỏa Xá ở Tây Nguyên). Ở vùng xa của các tỉnh Khánh Hòa, Bình Thuận, Vĩnh Long, Hà Tiên, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn…, triều đình bố trí các giáo thụ (phụ trách học tập của một phủ), huấn đạo (quản lý học tập của một huyện) chuyên trách cho phủ, huyện, hoặc cụm huyện tùy theo nhu cầu của từng địa phương.

Việc tuyển giáo chức được triều đình coi trọng. Lịch sử Việt Nam tập 5 chép lại lời vua Minh Mệnh: “Hạ lệnh cho các tỉnh phải xét kỹ học hạnh của giáo chức được học trò tin theo, hoặc người nào học thức cạn hẹp không kham nổi chức vụ, phải soi xét phân biệt mà tâu lên, đợi trẫm cách bãi hoặc thăng chức. Nếu có nơi nào thiếu, cần phải tuyển bổ, nên chọn người lớn tuổi học giỏi sung vào”. 

Đến triều Thiệu Trị, hoạt động giáo dục ở một số huyện vùng cao phía Bắc đã có bước chuyển quan trọng. Theo tấu trình của Thự Tổng đốc Sơn – Hưng – Tuyên Nguyễn Đăng Giai, ở Tuyên Quang vì “nhiều người thổ mục muốn cho con em theo học” nên xin dựng nhà học của tỉnh và đặt giáo thụ để giảng tập. Điều này chứng tỏ học lực của một số học trò người dân tộc đã vượt xa trình độ phổ cập tiểu học – mục tiêu ban đầu của triều đình.

Năm 1838, vua Minh Mệnh có dụ thể hiện rõ chính sách khuyến khích giáo dục vùng dân tộc thiểu số phía bắc. Các thổ huyện, châu ở Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hưng Hóa (nay là Phú Thọ, Sơn La, Điện Biên, Hòa Bình), Quảng Yên (nay là Quảng Ninh) đều đặt quan cai trị, mục đích muốn “nhân dân vùng đó hun đúc, tiêm nhiễm, trông nhau làm nên để có đường tiến thân”.

“Những người vui lòng dựa vào triều đình để xem phong hóa, tưởng cũng chẳng thiếu gì. Nay cho thượng ty các tỉnh ấy xét trong hạt, không cứ con em thổ quan hay nhà dân, cũng không cứ học đủ văn thể ba trường, ai là người tuấn tú thông minh, cho được vào kinh, giao cho quan Quốc tử giám dạy cho học tập”, sách Lịch sử Việt Nam chép.  

Những cá nhân ưu tú vùng dân tộc ít người được gọi là Ân cống sinh, được cấp lương ăn học ở Quốc tử giám (đặt ở kinh thành Huế), cùng với Tôn sinh, Ấm sinh (người của hoàng tộc, con quan lại). Năm 1844, Quốc tử giám có một học sinh Cao Bằng, hai người Lạng Sơn, một người Tuyên Quang, một người Hưng Hóa và một người Thái Nguyên. 

Đây là lần đầu tiên trong thành phần học sinh Quốc tử giám có thêm diện ưu đãi là con em vùng dân tộc ít người, không phân biệt xuất thân. 

[ triều đại duy nhất ]  Triều đại duy nhất có chính sách khuyến học với dân tộc ít người  3519

Quốc tử giám ở Huế, nơi một số con em đồng bào dân tộc được theo học. Ảnh: Võ Thạnh.

Học ngôn ngữ dân tộc thiểu số 

Ngoài việc khuyến học ở vùng dân tộc thiểu số, nhằm quản lý trực tiếp và thay đổi dần bộ mặt của vùng miền núi trên mọi phương diện, vua Minh Mệnh trú trọng đào tạo đội ngũ quan chức người dân tộc thiểu số biết chữ Hán và người Kinh biết chữ dân tộc. 

Năm 1836, vua cho tìm người người Kinh biết chữ Hán, lại am tường chữ Chiêm, chữ Ni để mở lớp dạy tiếng dân tộc. Tại các tỉnh Bình Thuận, Hà Nội, Tuyên Quang, chọn tuyển học sinh học chữ và tiếng của người Chiêm, người Ni, Thanh, Thổ.

Ở Vĩnh Long, An – Hà, quan địa phương được lệnh tìm chọn những người minh mẫn, biết chữ Hán, cho học chữ Miên. Ở vùng rừng núi Nghệ An, triều đình xuống chỉ cho chiêu mộ những người thông hiểu tiếng dân tộc thiểu số trong hạt, điều về kinh để dạy tiếng và làm việc công. Ở biên giới phía Bắc, quan tỉnh Tuyên Quang Trần Ngọc Lâm đã mở lớp ở huyện Để Định, Vĩnh Điện. Lớp này do thầy giáo người Thổ dạy cho 5-6 học ính người bản hạt.

Với số lượng trường, lớp tăng tiến nhanh chóng, phân bổ khắp địa bàn từ miền xuôi đến miền ngược và các khoa thi mở liên tục, triều Nguyễn giai đoạn độc lập tự chủ đã tạo ra nguồn nhân lực dồi dào dùng cho bộ máy công quyền. 

Continue Reading

Giáo dục

[ Thổ Nhĩ Kỳ ] Trường Thổ Nhĩ Kỳ dạy cách đối phó với người ngoài hành tinh

Published

on

By

Ngoài bảng điểm, chứng chỉ, bài luận bàn cần ghi điểm với nhà tuyển sinh bằng câu chuyện riêng của bản thân mình khi làm hồ sơ. …

Đại học Akdeniz ở tỉnh Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ mới đưa vào chương trình giảng dạy một khóa học mang tên “Ufology and Exopolitics”, có nghĩa nghiên cứu về UFO và chính sách đối với các hiện tượng, sinh vật ngoài trái đất. Theo Oddity Central ngày 29/11, mục đích của khóa học là giúp sinh viên sẵn sàng hoan nghênh du khách từ không gian theo cách thích hợp.

Giảng viên Erhan Kolbaşi của trường tin người ngoài hành tinh đã đáp xuống trái đất nhiều lần. Ông trả lời tờ Dogan News Agency rằng bên cạnh kiến thức ngoại giao giữa các vì sao, sinh viên sẽ được tìm hiểu về những cáo buộc của chính phủ về hoạt động của người ngoài hành tinh trên trái đất.

[ Thổ Nhĩ Kỳ ]  Trường Thổ Nhĩ Kỳ dạy cách đối phó với người ngoài hành tinh  3521

Nghiên cứu về UFO và người ngoài hành tinh được đưa vào chương trình dạy của trường đại học ở Thổ Nhĩ Kỳ. Ảnh: Wikimedia Commons

Kolbaşi, người từng giữ chức Phó chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Không gian UFO Sirius ở Istanbul, cho biết cáp quang, vi mạch và thiết bị quan sát ban đêm là những công nghệ con người có được nhờ thông tin thu thập tại các địa điểm rơi UFO.

“Chúng tôi tin rằng đại diện của thế giới và các nền văn minh ngoài trái đất sẽ sớm liên hệ chính thức với nhau. Đó sẽ là thay đổi lớn nhất từng thấy trong lịch sử thế giới”, Kolbaşi nói và kỳ vọng rằng việc này xảy ra trong 10-15 năm tới.

Vị giảng viên đổ lỗi cho một đối tượng cụ thể đã tước đoạt thông tin liên quan đến hoạt động của người ngoài hành tinh trên trái đất. Ông chỉ ra đó là Majestic 12 (MJ-12), một tổ chức bí mật đã bằng mọi giá giữ kín những chuyến viếng thăm từ ngoài không gian.

Continue Reading
Advertisement Quảng cáo

Trending