Connect with us

Giáo dục

Nỗi đau trường sư phạm

Published

on

Sẽ là bi kịch của gia đình nếu sinh viên sư phạm yếu kém không xin được việc; nếu xin được lại trở thành bi kịch của nền giáo dục.

Thầy giáo Nguyễn Xuân Quang (Hà Nội) chia sẻ về việc điểm chuẩn trường sư phạm thấp và đưa ra giải pháp để nâng cao chất lượng giáo viên.

Điểm vào các trường sư phạm thấp chưa từng thấy, thấp đến mức người ta nghi ngờ liệu các “thầy cô tương lai” có đủ năng lực để học đại học hay không. Thấp đến mức người ta khắc khoải lo lắng cho tương lai của cả một thế hệ học sinh sắp tới. Vì đâu nên nỗi?

Tôi có cô em họ ở quê, năng lực làng nhàng, để “chạy” làm giáo viên Vật lý ở một trường THPT, gia đình phải đầu tư 300 triệu đồng mà vẫn không vào nổi. Một cô khác, muốn “chạy” làm cô giáo mầm non cũng hết 200 triệu đồng. Chi phí xin việc tại các trường học đang dần trở thành gánh nặng với nhiều gia đình có con em theo ngành sư phạm.

Dễ hiểu khi đầu vào các trường như công an và quân đội rất cao, vì sinh viên tốt nghiệp không phải lo tìm việc. Với những trường kinh tế, kỹ thuật như Đại học Ngoại thương hay Đại học Bách khoa, cơ hội công việc rất nhiều.

Học sư phạm, đi đâu? Sinh viên sư phạm buộc phải neo bám vào các trường học, mà cơ hội thì thực sự không nhiều. Với cơ chế hiện nay, thi thoảng mới có giáo viên nghỉ hưu – cơ hội nghề nghiệp chủ yếu nằm ở các khu vực vùng cao, vùng xa thừa gian khổ và thiếu thu nhập. Điều đó kết hợp với hiện tượng thiếu minh bạch trong tuyển giáo viên – chủ yếu trong hệ thống công lập – khiến con đường nghề nghiệp của giáo viên trở nên khó khăn và bấp bênh hơn.

Nếu may mắn ra trường có việc, giáo viên hiện nay về cơ bản có mức lương thấp hơn so với các ngành nghề khác. Một gia đình bốn miệng ăn chỉ trông chờ vào thu nhập của một thầy/cô giáo thì… không đủ sống ở mức tối thiểu. Mức lương của thạc sĩ ở một đại học giữa Hà Nội có thể chỉ tương đương hoặc thấp hơn mức lương của sinh viên mới ra trường ở một công ty tư nhân.

Với những bất cập đó, các gia đình có con em học “được được” thường tránh trường sư phạm. Đại học với phần lớn gia đình, vẫn chỉ là con đường để kiếm được công việc tốt về sau. Khi cơ hội việc làm trở nên mờ nhạt hơn ở các trường sư phạm, học sinh giỏi sẽ bỏ qua, kể cả với mức học phí 0 đồng.

Vấn đề cốt lõi không phải đầu vào sinh viên sư phạm như thế nào, mà là chất lượng đầu ra. Tôi tin vẫn có một số lượng nhỏ những “thầy giáo tương lai” với điểm đầu vào 15,5 trong năm nay sẽ nỗ lực vươn lên, vượt qua khó khăn ban đầu và trở thành những giáo viên giỏi. Nhưng phần đông còn lại, họ sẽ đi đâu? 

Nếu họ xin được việc, đó sẽ là bi kịch của nền giáo dục. Mợ tôi làm giáo viên một trường tiểu học ở Hà Nội kể chuyện, một cô giáo dạy toán lớp 4 ở trường khăng khăng đề toán “tìm diện tích hình vuông khi biết một cạnh bằng 2” là không đủ dữ liệu. Câu chuyện này cũng khớp với chia sẻ của một thầy giáo về “hòn đảo tạo muối” giữa biển khơi. Một thầy giáo dốt, chắc chắn sẽ không thể khai sáng được tài năng của những thế hệ tương lai.

Nếu họ không xin được việc, đó sẽ là bi kịch của họ và gia đình. Hơn 4 năm học đại học là khoảng thời gian dài, là sự hy sinh cơ hội và tài chính của gia đình và xã hội. Đó là nỗi đau và sự mất mát. Đó là một bài toán, mà giải theo cách nào đi nữa, xã hội vẫn sẽ thua thiệt.

Vậy, hướng đi nào cho ngành sư phạm? Theo tôi, trước hết cần minh bạch hóa quá trình tuyển giáo viên trong trường học, đặc biệt là trường thuộc khối công lập.

Thứ hai, cần minh bạch về chất lượng giáo viên thông qua hệ thống đánh giá khách quan, ví dụ yêu cầu giáo viên tiếng Anh phải đạt ít nhất 6.0 IELTS. Những giáo viên không đạt chuẩn phải được đào tạo lại, một mặt nâng cao chất lượng đội ngũ hiện tại, mặt khác tạo nguồn học viên cho các trường sự phạm. Những giáo viên không thể đạt chuẩn tối thiểu phải được đưa ra khỏi hệ thống vì yêu cầu tối thiểu nhất của giáo viên chính là chuyên môn. Điều này sẽ tạo ra không gian cho những giáo viên có năng lực hơn tham gia vào hệ thống đào tạo.

Thứ ba, cần tìm cách nâng cao thu nhập chính đáng cho giáo viên, mức thu nhập giúp họ yên tâm giảng dạy và nghiên cứu. Điều này sẽ tạo sức hút cho đầu vào các trường sư phạm.

Đó là giải pháp lâu dài, còn trước mắt, tôi nghĩ các trường sư phạm nên giảm số lượng tuyển sinh để tập trung vào chất lượng. Với nguồn lực hiện có, sẽ tốt hơn nếu các trường đào tạo chỉ 50 giáo viên giỏi so với 1.000 giáo viên dốt. Đây vừa là tiết kiệm cho xã hội, vừa là xây dựng uy tín cho nhà trường. Vì với số lượng sinh viên ít hơn và chất lượng hơn, tỷ lệ xin việc làm và đóng góp cho xã hội của giáo viên sẽ là rất cao.

Đó là việc làm, dù đau đớn, nhưng hữu ích cho xã hội. Một việc làm cao thượng.

Các nhà giáo dục nói về điểm sàn thấp.

Mùa tuyển sinh 2017, trừ hai đại học lớn là Sư phạm Hà Nội và Sư phạm TP HCM có điểm chuẩn cao, phần đông trường địa phương lấy điểm trúng tuyển ngành sư phạm bằng hoặc hơn một chút so với mức sàn 15,5 của Bộ Giáo dục.

Đại học Hồng Đức (công lập, tỉnh Thanh Hoá) 10/10 ngành Sư phạm lấy điểm chuẩn xét theo kết quả thi THPT quốc gia là 15,5. Đại học Hùng Vương (công lập, tỉnh Phú Thọ) 8/10 ngành đào tạo sư phạm có điểm trúng tuyển 15,5.

Trường vùng miền có “thương hiệu” như Đại học Vinh (tỉnh Nghệ An), điểm chuẩn nhóm Sư phạm Tự nhiên và Sư phạm Xã hội chỉ là 15,5, trừ Giáo dục tiểu học. Đại học Sư phạm Huế 10/15 mã ngành lấy bằng điểm sàn quy đổi. Sư phạm Thái Nguyên có 6/14 ngành lấy điểm chuẩn 15,5.

Nhiều trường cao đẳng sư phạm lấy điểm chuẩn đầu vào chỉ là 9, tức trung bình mỗi môn chỉ 3 điểm.

Giáo dục

Những mặt trái của xếp hạng đại học

Published

on

By

Đánh giá xếp hạng đại học trên thế giới là việc khó khăn, có nhiều bất cập và gây nhiều tranh cãi. Ở đây tôi xin liệt kê một số vấn đề chính đã được đưa ra.

Trước hết là khó khăn, tốn kém trong việc thu thập số liệu sao cho đầy đủ, chính xác. Một hướng giải quyết khá thú vị là yêu cầu các trường được đánh giá tự nộp số liệu. Các đơn vị đánh giá chỉ kiểm tra xem số liệu đó có đầy đủ và trung thực không, chấm điểm minh bạch cho số liệu đó, thì đỡ tốn công hơn nhiều so với phải tự đi tìm. Trừ điểm (hoặc không cho vào danh sách đánh giá) những trường nào đưa thiếu số liệu, hay bị phát hiện không trung thực.

Thứ hai là khó khăn trong việc so sánh giữa các ngành, vì đặc thù của chúng. Ví dụ trong ngành khoa học cơ bản thì nghiên cứu chủ yếu đăng tạp chí; ngành công nghệ thông tin thì nghiên cứu lại đăng ở kỷ yếu hội thảo khoa học; còn ngành xã hội thì công trình khoa học sáng giá lại chủ yếu viết dưới dạng sách.

Chỉ số năng suất nghiên cứu khoa học mà chỉ dựa trên số bài báo sẽ bị thiên lệch về khoa học cơ bản, các ngành khác bị coi nhẹ đi. Việc đưa ra một chỉ số đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học sao cho cân bằng giữa các ngành là rất khó.

Các chỉ số dựa trên giá trị tuyệt đối có nguy cơ “lấy thịt đè người”. Ví dụ ba trường A, B, C có số công trình khoa học một năm tương ứng là 2.000, 1.500, 1.000, thì trường nào tốt hơn về nghiên cứu khoa học (tạm coi là công trình có giá trị tương đương)? Nếu chỉ tính theo giá trị tuyệt đối thì A là tốt nhất. Nhưng nếu đánh giá theo cả quy mô của mỗi trường, ví dụ A có 4.000 giảng viên còn C có 1.000 giảng viên, thì sẽ thấy là số công trình khoa học trên đầu giảng viên của A chỉ là 0,5 còn của C là 1. Như vậy C phải tốt hơn A.

Trong “danh sách Thượng Hải” có những chỉ số dựa trên giá trị tuyệt đối như vậy, dẫn đến trường có quy mô rất to nhưng chất lượng vừa phải lại được xếp hạng trên trường có chất lượng rất cao nhưng có số người hạn chế. Điều này dẫn tới một xu hướng mang tính rất hình thức ở một số nơi như Pháp là sáp nhập các trường với nhau cho phình to ra để được xếp hạng cao hơn, kể cả khi việc đó chẳng hề làm tăng chất lượng của trường mà chỉ tạo thêm một tầng quan liêu.

Bên cạnh đó, còn có sự tùy tiện trong việc tính hệ số cho các tiêu chí. Giả sử xếp hạng dựa trên 3 điểm khác nhau tổng hợp lại theo ba tiêu chí a, b, c. Trường A có điểm a= 3, b=4, c= 5; trường B có a=4, b=5, c=3; trường C có a=5, c=3, b=4, thử hỏi trường nào xếp hạng cao hơn trường nào? Nếu tổ chức đánh giá cho tiêu chí a 40% số điểm, b 30% và c 30% thì C xếp hạng cao nhất trong ba trường A, B, C; còn nếu cho a 30% số điểm, b 35% số điểm và C 35% số điểm thì C lại thành xếp hạng bét trong ba trường A, B, C.

Như vậy, bảng xếp hạng rất phụ thuộc vào việc tổ chức đánh giá phân hệ số bao nhiêu cho mỗi tiêu chí. Và cuộc tranh cãi “tiêu chí nào cần cho hệ số bao nhiêu mới đúng” sẽ không bao giờ có người thắng cuộc. Bởi vậy các bảng xếp hạng khác nhau sẽ luôn cho các bảng thứ tự khác nhau. Chưa kể đến có những tiêu chí được tính trong bảng xếp hạng này lại hoàn toàn không được tính (hệ số = 0) trong bảng khác.

GS Nguyễn Tiến Dũng.

Khi một bảng xếp hạng nặng về các tiêu chí có tính chất quá khứ, ví dụ số cựu học sinh được giải Nobel (thường là phải học tại trường từ hàng chục năm trước đó) thì có lợi cho các trường có quá khứ huy hoàng, nhưng đang xuống dốc. Trong khi các trường đang mạnh lên có điều kiện tốt hơn lại bị thiệt thòi về thứ hạng. Sự lệch lạc này không có lợi cho những người muốn chọn nơi tốt nhất để học và để làm việc.

Một số tiêu chí về “phỏng vấn uy tín” vừa mang tính quá khứ vừa khó xác định mức độ khách quan và minh bạch. Phỏng vấn ai, tại sao lại chỉ chọn những người đó, và những người trả lời có đại diện thật sự cho ý kiến chung của toàn bộ cộng đồng hay không?

Một thực trạng nữa là các trường sẽ chạy đua theo xếp hạng, chỉ chú trọng các tiêu chí có trong xếp hạng mà bỏ rơi rất nhiều yếu tố khác tạo nên một đại học tử tế. Đây là điều xảy ra trên thực tế và là một trong những “tác dụng phụ” đáng lo ngại nhất của các bảng xếp hạng.

Một số vấn đề trên đủ để cho thấy việc xếp hạng là một việc khó khăn, gây nhiều tranh cãi, và không bao giờ có thể thống nhất được. 

Chỉ 5% đại học lọt vào bảng xếp hạng đại học thế giới

Hiện có rất nhiều tổ chức công và tư tham gia vào việc đánh giá xếp hạng đại học. 

Nổi tiếng nhất

 là The Academic Ranking of World Universities (ARWU) do Đại học Giao thông Thượng Hải (Shanghai Jiao Tong University) thực hiện (còn được gọi là “danh sách Thượng Hải”), Times Higher Education World University Rankings của tạp chí Times Higher Education (THE) ở London, và QS World University Rankings do Quacquarelli Symonds thực hiện từ năm 2004 ở Anh.

Thế giới có hơn 16.000 trường đại học, nhưng chỉ khoảng 5% trong số đó được coi là có “đẳng cấp quốc tế” và lọt vào danh sách của ba bảng xếp hạng trên. Danh sách xếp hạng ở mức “địa phương” thì có thêm nhiều trường.

GS Nguyễn Tiến Dũng
Đại học Toulouse, Pháp

Continue Reading

Giáo dục

Cách trị mầm mống bắt nạt từ tuổi mẫu giáo

Published

on

By

“Cách đây không lâu, ý tưởng một đứa trẻ mẫu giáo có thể trở thành kẻ bắt nạt đối với tôi thật điên rồ. Nhưng quan điểm của tôi đã thay đổi khi con trai Nicky lên 4. Các bé trai thường đuổi các bé gái quanh lớp và cấu véo chỉ để cho vui. Tuy nhiên, một cậu bé hung hăng trong lớp Nicky hay đấm bạn bè rất mạnh, một lần tôi thấy nó đá đứa trẻ đang chơi cùng chiếc xe mà nó thích. Giáo viên mất rất nhiều thời gian khiển trách cậu bé này và giải thích hành động nào là tốt, nhưng các thái độ đe dọa vẫn tiếp diễn. Nicky buộc phải học cách tránh xa cậu bé đó”, Stacey Colino (Mỹ) chia sẻ trên Parents Magazine.

Đó chỉ là sự khởi đầu. Ở trường mẫu giáo, Nicky có vài người bạn luôn làm phiền mọi người vào giờ giải lao. Mùa đông năm ngoái, một cậu bé khác trong lớp muốn tìm cách cắt tóc bạn gái bằng dao. Hiệu phó sau đó phải họp riêng từng lớp, yêu cầu giáo viên đảm bảo mọi đứa trẻ có quyền cảm thấy an toàn ở trường.

Những ví dụ này nghe có vẻ cực đoan, nhưng thực tế đây là chuyện ngày càng phổ biến. Hành động cố ý gây hại cho người khác thông qua quấy rối bằng lời nói, hành hung (đánh, đá, cắn) hoặc cô lập một đứa trẻ khỏi một nhóm từng là điều phụ huynh không lo lắng khi trẻ chưa bước vào tuổi thanh thiếu niên. Giờ đây, nạn bắt nạt xuất hiện ở cả lứa mẫu giáo. Vài nghiên cứu chỉ ra trẻ độ tuổi 2-6 còn bắt nạt nhau nhiều hơn học sinh lớn tuổi.

Phụ huynh không nên bỏ qua hành vi xấu của trẻ mẫu giáo. Ảnh minh họa: Pinterest

“Trẻ nhỏ đang bắt chước hành vi hung hăng mà chúng nhìn thấy trên các chương trình truyền hình, trò chơi điện tử, hoặc từ các anh chị lớn tuổi”, tiến sĩ Susan Swearer, đồng tác giả cuốn Phòng chống và can thiệp nạn bắt nạt cho biết.

Bắt nạt học đường đã trở thành đại dịch. Một nghiên cứu công bố trên Journal of School Health cho thấy 19% học sinh tiểu học ở Mỹ bị bắt nạt. Mỗi ngày, hơn 160.000 trẻ em Mỹ không đến trường vì sợ hãi khi là nạn nhân, theo khảo sát của Hiệp hội Giáo dục quốc gia.

Việc bị bắt nạt có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho trẻ, dẫn đến học kém, lòng tự trọng thấp, hay lo lắng và thậm chí trầm cảm. Những đứa trẻ bị bắt nạt khi còn nhỏ dễ gặp phải vấn đề tâm lý nặng nề hơn. Một nghiên cứu của trường Y khoa thuộc Đại học Washington nhận định trẻ mẫu giáo có xu hướng rơi vào trạng thái buồn rầu hơn 80% thời gian trong ngày nếu bị bắt nạt.

Tại sao trẻ muốn làm đau người khác?

Ranh giới giữa hành động vô tư, ích kỷ và bắt nạt thực sự rất mong manh. Hầu hết chuyên gia đồng ý rằng một đứa trẻ đi quá giới hạn khi hành động của nó là cố ý và diễn ra thường xuyên. Tại sao một số trẻ muốn làm tổn thương người khác về thể chất hoặc tinh thần? Tiến sĩ W. Michael Nelson, đồng tác giả cuốn sách về kiểm soát cơn giận khẳng định, trẻ thiếu sự đồng cảm và muốn thống trị kẻ khác sẽ sử dụng việc bắt nạt để đạt được mục đích.

Trẻ mẫu giáo đang nắm các kỹ năng xã hội cơ bản và tìm cách quản lý cảm xúc của chính mình, do đó các hành động cực đoan có thể là cách để chúng kiểm tra ranh giới về những gì được chấp nhận. “Trêu chọc là một phần trong tiến trình phát triển của trẻ nhỏ. Ở tuổi này, trẻ hành động ít có chủ ý và có nhiều khả năng dày vò bất kỳ ai ở xung quanh”, tiến sĩ Swearer nói.

Khi đi học mẫu giáo, trẻ bắt đầu nắm bắt khái niệm quyền lực xã hội giữa bạn bè cùng tuổi. Những đứa trẻ hung dữ chủ động nhắm vào người khác mà chúng cho là dễ tổn thương – nhút nhát, nhạy cảm, nhỏ bé hoặc khác biệt.

Giáo viên thường phản ứng khác với một kẻ bắt nạt tùy thuộc vào độ tuổi. Ở trường mẫu giáo, họ cố gắng truyền đạt một cách nhẹ nhàng. Nhưng ở trường tiểu học, họ nhấn mạnh hơn nhằm hướng tới bảo vệ nạn nhân. Việc cải tạo một đứa trẻ chuyên bắt nạt người khác không bao giờ là quá muộn, nhưng cần định hướng cách giải quyết xung đột để trẻ tự tin khi lên cấp học cao hơn.

Trong khi giáo viên cố gắng làm những gì tốt nhất để kiểm soát nạn bắt nạt, họ không thể luôn luôn canh chừng và ngăn chặn nó. Những người quản lý trường học thậm chí không biết rằng nạn bắt nạt đang diễn ra. Do đó, bố mẹ đóng vai trò chính trong việc giúp con đi đúng hướng. 

Kiểm soát hành vi của trẻ

Khi trẻ là mối đe dọa đối với bạn bè, phụ huynh cần hành động ngay lập tức, không chỉ vì lợi ích của các nạn nhân mà còn để ngăn chặn hành vi này từ trứng nước.

Nếu chưa khẳng định được con có phải kẻ bắt nạt hay không, bạn nên theo dõi các dấu hiệu cảnh báo. Thông thường, trẻ bắt nạt hay bốc đồng và rất nhanh nổi giận, thích kết thân với những đứa trẻ có tính cách tương tự, giải tỏa cảm xúc bằng cách đánh hoặc xô đẩy người khác, thường gây rắc rối ở trường. Ở nhà, trẻ tranh cãi quyết liệt với anh chị em hoặc muốn giải quyết xung đột bằng vũ lực.

Trường hợp con có một hoặc nhiều biểu hiện trên, bạn hãy hướng dẫn con hít thở sâu hoặc đếm đến mười để kiềm chế cảm xúc tiêu cực. Nhiều phụ huynh thường chỉ can thiệp khi thấy con ở vị trí bị hại. Tuy nhiên, nếu phát hiện con gây đau đớn cho người khác, bạn hãy chặn hành động đó ngay lập tức, đưa con ra khỏi vị trí và nói về những việc nên làm khi ở tình huống tương tự.

Theo WikiHow, quát mắng không phải là cách tốt nhất để trị tận gốc vấn đề. Thông thường, việc bắt nạt luôn có nguyên nhân tiềm ẩn. Bằng cách trò chuyện với con, bạn có thể biết con đang bắt chước bố mẹ, ức chế vì từng bị bạn khác bắt nạt hay cảm thấy không còn cách nào khác nên mới đánh bạn để giành đồ chơi.

Bạn có thể tìm cơ hội để hỏi: “Mẹ thấy con không chơi với Charlie nữa. Con có muốn nói với mẹ về chuyện đó không?”. Sau đó, tùy thuộc vào phản ứng của trẻ, bạn tiếp tục giúp chúng nhận thức vấn đề bằng cách nói đơn giản: “Con nên biết bắt nạt bạn là sai. Con hãy thử kể một vài hành động được tính là bắt nạt để sau này tránh ra nhé”.

Bố mẹ hiểu rõ con hơn bất kỳ ai, do đó có thể đưa ra hình phạt hiệu quả nhất, linh hoạt trong từng trường hợp. Một số phụ huynh nhận ra nên quan tâm con nhiều hơn, điều chỉnh thái độ của con một cách từ từ sẽ mang lại kết quả như ý. Nhiều người khác lại thấy rằng bắt trẻ xin lỗi và cảm thấy xấu hổ vì việc đã làm mới là tốt nhất. Hình phạt cho đứa trẻ này chưa chắc hiệu quả khi áp dụng vào đứa trẻ khác, do đó mọi lời khuyên chỉ tham khảo. Quan trọng nhất, bạn không được bỏ qua hành vi xấu của con. Trẻ cần chịu trách nhiệm về việc đã làm. 

Thông thường, trẻ chưa thể thay đổi chỉ sau một hai lần bị phạt. Bạn nên để mắt đến trẻ cho đến khi tin chắc việc bắt nạt đã ngừng lại và trẻ đang đối xử với người khác theo cách ôn hòa hơn.

Trường mẫu giáo là một xã hội thu nhỏ, trong đó trẻ không tham gia bắt nạt hoàn toàn có thể là người chứng kiến hành vi xấu này. Trẻ sẽ giúp nạn nhân, hùa vào với kẻ bắt nạt hay bỏ qua phụ thuộc vào tính cách và nhận thức. Phụ huynh đóng vai trò như một tấm gương soi chiếu cho cách hành xử của trẻ.

Hiện nay, nhiều ông bố bà mẹ đưa con đi phát quà cho người vô gia cư, đăng ký cho cả nhà cùng tham gia thiện nguyện. Đây là một cách tốt để dạy con về sự đồng cảm, quan tâm người khác. Dù bạn chưa nhận ra ngay lập tức, trẻ đang bị ấn tượng bởi sự nghèo khó, thiếu thốn và có thể cảm thấy hối hận về hành động của mình.

Continue Reading

Giáo dục

Thử thách đoán từ vựng tiếng Anh qua hình ảnh

Published

on

By

Hình 1.

Hình 2.

Hình 3.

Hình 4.

Hình 5.

>>Xem đáp án

Continue Reading

Trending