Connect with us

Giáo dục

Vì sao chất lượng giáo viên Singapore thuộc top đầu thế giới?

Published

on

Singapore chọn giáo viên tương lai từ một phần ba học sinh tốt nghiệp phổ thông đạt kết quả cao nhất. 

Năm 2016, Singapore liên tục đạt kết quả cao nhất trong các chương trình đánh giá học tập như TIMSS và PISA (OECD). Quốc gia châu Á mới độc lập hơn 50 năm khiến thế giới ngưỡng mộ về tầm nhìn giáo dục, trong đó có cách tuyển chọn đội ngũ giáo viên.

Chỉ người giỏi mới đủ điều kiện thi sư phạm

Dạy học là nghề được kính trọng ở Singapore, không chỉ theo truyền thống Nho giáo. Ai cũng hiểu rằng trở thành giáo viên là việc rất khó khăn và những nhà giáo cao quý đã giúp Singapore tạo ra nhiều thế hệ học sinh đạt thành tích tốt nhất thế giới.

Theo Trung tâm Giáo dục và Kinh tế quốc gia Mỹ (NCEE), Singapore xác định chọn người để đào tạo thành giáo viên từ một phần ba học sinh tốt nghiệp phổ thông đạt kết quả cao nhất. Mỗi năm, đất nước này tính toán số lượng giáo viên cần thiết và đặt chỉ tiêu thích hợp cho chương trình đào tạo sư phạm. Trung bình, chỉ có một trên tám ứng viên được chấp nhận sau quá trình tuyển chọn gắt gao.

Những người trúng tuyển phải đạt số điểm ít nhất là ở giữa thang điểm của kỳ thi A-level – kỳ thi khó nhất đối với học sinh Singapore. Ngoài ra, họ phải trải qua những buổi phỏng vấn nghiêm ngặt, tập trung vào phẩm chất cá nhân của một giáo viên giỏi, đánh giá sâu về thành tích học tập, những đóng góp cho trường và cộng đồng.

                         Vì sao chất lượng giáo viên Singapore thuộc top đầu thế giới?                                             1846

Chỉ những người giỏi mới đủ điều kiện thi sư phạm ở Singapore. Ảnh: NIE

Chỉ có một cơ sở đào tạo giáo viên ở Singapore là Viện Giáo dục quốc gia (NIE), bao gồm cả chương trình cử nhân và bằng cấp sau đại học. NIE nằm trong Đại học Công nghệ Nanyang – một trong những trường đại học uy tín nhất cả nước. Hầu hết thí sinh có một bằng cử nhân về môn sẽ dạy trước khi nộp đơn ứng tuyển, sau đó phải hoàn thành một trong những chương trình đào tạo sư phạm tại NIE và vượt qua bài kiểm tra trình độ đầu vào để trở thành giáo viên. 

Có nhiều chương trình đào tạo phụ thuộc trình độ của ứng viên, kéo dài từ hai đến bốn năm. NIE tập trung vào sư phạm và kết nối giữa các môn học chứ không đào tạo chuyên sâu trong một môn cụ thể. Điều này có nghĩa bạn không thể trở thành giáo viên ở Singapore mà không đạt trình độ cao ở môn sẽ dạy, đồng thời trải qua ít nhất một năm được hướng dẫn đầy đủ về nghiệp vụ sư phạm. Chương trình được cập nhật liên tục để phản ánh nhu cầu thay đổi của hệ thống giáo dục Singapore.

Trong quá trình đào tạo, các giáo viên tương lai nhận được khoản trợ cấp hàng tháng tương đương 60% lương khởi điểm giáo viên, đồng thời học phí của họ được Bộ Giáo dục chi trả. Sau khi hoàn thành chương trình, họ phải cam kết làm việc ba năm trong ngành.

Lương cạnh tranh với các ngành nghề khác

Mặc dù mức lương cơ bản của nghề giáo ở Singapore không cao nổi bật so với nhiều quốc gia có thành tích tốt nhưng đủ để học sinh cân nhắc khi lựa chọn nghề nghiệp. Bộ Giáo dục theo dõi mức lương của giáo viên so với các ngành nghề khác, điều chỉnh phù hợp để đảm bảo tính cạnh tranh. 

Theo dữ liệu mới nhất của website khảo sát lương Payscale (Mỹ), một giáo viên trung học cơ sở ở Singapore kiếm trung bình khoảng 42.000 USD mỗi năm, mức cao nhất khoảng 72.000 USD.

Mức trung bình của giáo viên trung học phổ thông là 45.000 USD, tối đa 65.000 USD. Trong 5-10 năm đầu tiên ở vị trí này, tiền lương tăng khá nhanh chóng. 

Với mức thưởng dao động từ 2.200-15.000 USD đối với giáo viên trung học cơ sở và 890-33.000 USD đối với giáo viên trung học phổ thông, thu nhập của giáo viên tại Singapore khá hấp dẫn. 

Những khoản thưởng này được xác định thông qua hệ thống đánh giá nghiêm ngặt mỗi năm trên toàn quốc ở 16 lĩnh vực, bao gồm đóng góp của giáo viên cho trường và cộng đồng. Giáo viên xuất sắc có cơ hội kiếm tiền thưởng lưu dụng (khoản khích lệ nhằm giữ chân người giỏi), dao động 10.000-36.000 USD mỗi 3-5 năm một lần và tiền thưởng năng suất có thể lên đến 30% tiền lương cơ bản.

Sau những năm đầu tiên, việc tăng lương phụ thuộc vào quá trình thăng tiến. Hệ thống quản lý hiệu quả giáo dục (EPMS) quyết định một giáo viên có đủ điều kiện để thăng chức hay không. Giáo viên được kỳ vọng thiết lập và đạt được các mục tiêu cá nhân trong công việc, thể hiện trình độ cải thiện bằng các phiếu đánh giá năng lực qua quan sát kỹ năng giảng dạy.

Phát hiện sớm tiềm năng lãnh đạo

Theo Asia Society, giáo viên Singapore có 100 giờ đào tạo chuyên môn mỗi năm. Họ được tiếp cận với nhiều cơ hội phát triển nghề nghiệp. Bộ Giáo dục và NIE cung cấp học bổng cho các giáo viên muốn có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ tại Singapore hoặc ở nước ngoài, toàn thời gian hoặc bán thời gian. 

Các trường học ở Singapore hoạt động với niềm tin lãnh đạo kém là lý do chính của thất bại giáo dục. Do đó, chất lượng lãnh đạo trường học rất được coi trọng. Đội ngũ lãnh đạo xuất phát từ giáo viên đạt tiêu chuẩn cao, được tuyển chọn và bồi dưỡng từ sớm.

Quy trình đào tạo rất gắt gao, trong đó có sáu tháng nghiên cứu về kỹ năng lãnh đạo ở NIE.

Trường học là gánh xiếc, giáo viên là nghệ sĩ tài giỏi 

Làm việc trong môi trường giáo dục hàng đầu đồng nghĩa áp lực của giáo viên không hề nhỏ. Gắn bó cuộc sống với nghề giáo mang lại nhiều niềm vui nhưng cũng không ít trách nhiệm nặng nề. CNA Insider (Singapore) từng phỏng vấn bà Deborah Chai, người quyết định nghỉ việc sau 15 năm làm giáo viên dạy tại trường trung học cơ sở Ngee Ann. Bà nhận định: “Trường học thật sự là một gánh xiếc, trong đó giáo viên là những nghệ sĩ biểu diễn tài giỏi”.

Giải thích về nhận định này, bà cho biết giáo viên có thể thức đến 2h sáng, làm việc vào cuối tuần, dành rất nhiều thời gian ngoài giờ cho công việc để mang đến bài giảng tốt nhất. Ben Khor, trưởng bộ môn mỹ thuật phải dành tổng cộng 48 tiếng để chuẩn bị bài cho các lớp học ở trường. 

“Tôi yêu thích việc tương tác với học sinh. Động lực trong lớp học là điều bạn không thể mua được ở bất cứ đâu. Đó là những mối quan hệ được xây dựng trong rất nhiều năm”, bà nói. Tuy nhiên, nếu có một điều cần thay đổi, bà muốn lớp học có quy mô nhỏ hơn, bởi “bạn không thể giảng dạy chất lượng cho 40 đứa trẻ”.

Giáo dục

Những mặt trái của xếp hạng đại học

Published

on

By

Đánh giá xếp hạng đại học trên thế giới là việc khó khăn, có nhiều bất cập và gây nhiều tranh cãi. Ở đây tôi xin liệt kê một số vấn đề chính đã được đưa ra.

Trước hết là khó khăn, tốn kém trong việc thu thập số liệu sao cho đầy đủ, chính xác. Một hướng giải quyết khá thú vị là yêu cầu các trường được đánh giá tự nộp số liệu. Các đơn vị đánh giá chỉ kiểm tra xem số liệu đó có đầy đủ và trung thực không, chấm điểm minh bạch cho số liệu đó, thì đỡ tốn công hơn nhiều so với phải tự đi tìm. Trừ điểm (hoặc không cho vào danh sách đánh giá) những trường nào đưa thiếu số liệu, hay bị phát hiện không trung thực.

Thứ hai là khó khăn trong việc so sánh giữa các ngành, vì đặc thù của chúng. Ví dụ trong ngành khoa học cơ bản thì nghiên cứu chủ yếu đăng tạp chí; ngành công nghệ thông tin thì nghiên cứu lại đăng ở kỷ yếu hội thảo khoa học; còn ngành xã hội thì công trình khoa học sáng giá lại chủ yếu viết dưới dạng sách.

Chỉ số năng suất nghiên cứu khoa học mà chỉ dựa trên số bài báo sẽ bị thiên lệch về khoa học cơ bản, các ngành khác bị coi nhẹ đi. Việc đưa ra một chỉ số đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học sao cho cân bằng giữa các ngành là rất khó.

Các chỉ số dựa trên giá trị tuyệt đối có nguy cơ “lấy thịt đè người”. Ví dụ ba trường A, B, C có số công trình khoa học một năm tương ứng là 2.000, 1.500, 1.000, thì trường nào tốt hơn về nghiên cứu khoa học (tạm coi là công trình có giá trị tương đương)? Nếu chỉ tính theo giá trị tuyệt đối thì A là tốt nhất. Nhưng nếu đánh giá theo cả quy mô của mỗi trường, ví dụ A có 4.000 giảng viên còn C có 1.000 giảng viên, thì sẽ thấy là số công trình khoa học trên đầu giảng viên của A chỉ là 0,5 còn của C là 1. Như vậy C phải tốt hơn A.

Trong “danh sách Thượng Hải” có những chỉ số dựa trên giá trị tuyệt đối như vậy, dẫn đến trường có quy mô rất to nhưng chất lượng vừa phải lại được xếp hạng trên trường có chất lượng rất cao nhưng có số người hạn chế. Điều này dẫn tới một xu hướng mang tính rất hình thức ở một số nơi như Pháp là sáp nhập các trường với nhau cho phình to ra để được xếp hạng cao hơn, kể cả khi việc đó chẳng hề làm tăng chất lượng của trường mà chỉ tạo thêm một tầng quan liêu.

Bên cạnh đó, còn có sự tùy tiện trong việc tính hệ số cho các tiêu chí. Giả sử xếp hạng dựa trên 3 điểm khác nhau tổng hợp lại theo ba tiêu chí a, b, c. Trường A có điểm a= 3, b=4, c= 5; trường B có a=4, b=5, c=3; trường C có a=5, c=3, b=4, thử hỏi trường nào xếp hạng cao hơn trường nào? Nếu tổ chức đánh giá cho tiêu chí a 40% số điểm, b 30% và c 30% thì C xếp hạng cao nhất trong ba trường A, B, C; còn nếu cho a 30% số điểm, b 35% số điểm và C 35% số điểm thì C lại thành xếp hạng bét trong ba trường A, B, C.

Như vậy, bảng xếp hạng rất phụ thuộc vào việc tổ chức đánh giá phân hệ số bao nhiêu cho mỗi tiêu chí. Và cuộc tranh cãi “tiêu chí nào cần cho hệ số bao nhiêu mới đúng” sẽ không bao giờ có người thắng cuộc. Bởi vậy các bảng xếp hạng khác nhau sẽ luôn cho các bảng thứ tự khác nhau. Chưa kể đến có những tiêu chí được tính trong bảng xếp hạng này lại hoàn toàn không được tính (hệ số = 0) trong bảng khác.

GS Nguyễn Tiến Dũng.

Khi một bảng xếp hạng nặng về các tiêu chí có tính chất quá khứ, ví dụ số cựu học sinh được giải Nobel (thường là phải học tại trường từ hàng chục năm trước đó) thì có lợi cho các trường có quá khứ huy hoàng, nhưng đang xuống dốc. Trong khi các trường đang mạnh lên có điều kiện tốt hơn lại bị thiệt thòi về thứ hạng. Sự lệch lạc này không có lợi cho những người muốn chọn nơi tốt nhất để học và để làm việc.

Một số tiêu chí về “phỏng vấn uy tín” vừa mang tính quá khứ vừa khó xác định mức độ khách quan và minh bạch. Phỏng vấn ai, tại sao lại chỉ chọn những người đó, và những người trả lời có đại diện thật sự cho ý kiến chung của toàn bộ cộng đồng hay không?

Một thực trạng nữa là các trường sẽ chạy đua theo xếp hạng, chỉ chú trọng các tiêu chí có trong xếp hạng mà bỏ rơi rất nhiều yếu tố khác tạo nên một đại học tử tế. Đây là điều xảy ra trên thực tế và là một trong những “tác dụng phụ” đáng lo ngại nhất của các bảng xếp hạng.

Một số vấn đề trên đủ để cho thấy việc xếp hạng là một việc khó khăn, gây nhiều tranh cãi, và không bao giờ có thể thống nhất được. 

Chỉ 5% đại học lọt vào bảng xếp hạng đại học thế giới

Hiện có rất nhiều tổ chức công và tư tham gia vào việc đánh giá xếp hạng đại học. 

Nổi tiếng nhất

 là The Academic Ranking of World Universities (ARWU) do Đại học Giao thông Thượng Hải (Shanghai Jiao Tong University) thực hiện (còn được gọi là “danh sách Thượng Hải”), Times Higher Education World University Rankings của tạp chí Times Higher Education (THE) ở London, và QS World University Rankings do Quacquarelli Symonds thực hiện từ năm 2004 ở Anh.

Thế giới có hơn 16.000 trường đại học, nhưng chỉ khoảng 5% trong số đó được coi là có “đẳng cấp quốc tế” và lọt vào danh sách của ba bảng xếp hạng trên. Danh sách xếp hạng ở mức “địa phương” thì có thêm nhiều trường.

GS Nguyễn Tiến Dũng
Đại học Toulouse, Pháp

Continue Reading

Giáo dục

Cách trị mầm mống bắt nạt từ tuổi mẫu giáo

Published

on

By

“Cách đây không lâu, ý tưởng một đứa trẻ mẫu giáo có thể trở thành kẻ bắt nạt đối với tôi thật điên rồ. Nhưng quan điểm của tôi đã thay đổi khi con trai Nicky lên 4. Các bé trai thường đuổi các bé gái quanh lớp và cấu véo chỉ để cho vui. Tuy nhiên, một cậu bé hung hăng trong lớp Nicky hay đấm bạn bè rất mạnh, một lần tôi thấy nó đá đứa trẻ đang chơi cùng chiếc xe mà nó thích. Giáo viên mất rất nhiều thời gian khiển trách cậu bé này và giải thích hành động nào là tốt, nhưng các thái độ đe dọa vẫn tiếp diễn. Nicky buộc phải học cách tránh xa cậu bé đó”, Stacey Colino (Mỹ) chia sẻ trên Parents Magazine.

Đó chỉ là sự khởi đầu. Ở trường mẫu giáo, Nicky có vài người bạn luôn làm phiền mọi người vào giờ giải lao. Mùa đông năm ngoái, một cậu bé khác trong lớp muốn tìm cách cắt tóc bạn gái bằng dao. Hiệu phó sau đó phải họp riêng từng lớp, yêu cầu giáo viên đảm bảo mọi đứa trẻ có quyền cảm thấy an toàn ở trường.

Những ví dụ này nghe có vẻ cực đoan, nhưng thực tế đây là chuyện ngày càng phổ biến. Hành động cố ý gây hại cho người khác thông qua quấy rối bằng lời nói, hành hung (đánh, đá, cắn) hoặc cô lập một đứa trẻ khỏi một nhóm từng là điều phụ huynh không lo lắng khi trẻ chưa bước vào tuổi thanh thiếu niên. Giờ đây, nạn bắt nạt xuất hiện ở cả lứa mẫu giáo. Vài nghiên cứu chỉ ra trẻ độ tuổi 2-6 còn bắt nạt nhau nhiều hơn học sinh lớn tuổi.

Phụ huynh không nên bỏ qua hành vi xấu của trẻ mẫu giáo. Ảnh minh họa: Pinterest

“Trẻ nhỏ đang bắt chước hành vi hung hăng mà chúng nhìn thấy trên các chương trình truyền hình, trò chơi điện tử, hoặc từ các anh chị lớn tuổi”, tiến sĩ Susan Swearer, đồng tác giả cuốn Phòng chống và can thiệp nạn bắt nạt cho biết.

Bắt nạt học đường đã trở thành đại dịch. Một nghiên cứu công bố trên Journal of School Health cho thấy 19% học sinh tiểu học ở Mỹ bị bắt nạt. Mỗi ngày, hơn 160.000 trẻ em Mỹ không đến trường vì sợ hãi khi là nạn nhân, theo khảo sát của Hiệp hội Giáo dục quốc gia.

Việc bị bắt nạt có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho trẻ, dẫn đến học kém, lòng tự trọng thấp, hay lo lắng và thậm chí trầm cảm. Những đứa trẻ bị bắt nạt khi còn nhỏ dễ gặp phải vấn đề tâm lý nặng nề hơn. Một nghiên cứu của trường Y khoa thuộc Đại học Washington nhận định trẻ mẫu giáo có xu hướng rơi vào trạng thái buồn rầu hơn 80% thời gian trong ngày nếu bị bắt nạt.

Tại sao trẻ muốn làm đau người khác?

Ranh giới giữa hành động vô tư, ích kỷ và bắt nạt thực sự rất mong manh. Hầu hết chuyên gia đồng ý rằng một đứa trẻ đi quá giới hạn khi hành động của nó là cố ý và diễn ra thường xuyên. Tại sao một số trẻ muốn làm tổn thương người khác về thể chất hoặc tinh thần? Tiến sĩ W. Michael Nelson, đồng tác giả cuốn sách về kiểm soát cơn giận khẳng định, trẻ thiếu sự đồng cảm và muốn thống trị kẻ khác sẽ sử dụng việc bắt nạt để đạt được mục đích.

Trẻ mẫu giáo đang nắm các kỹ năng xã hội cơ bản và tìm cách quản lý cảm xúc của chính mình, do đó các hành động cực đoan có thể là cách để chúng kiểm tra ranh giới về những gì được chấp nhận. “Trêu chọc là một phần trong tiến trình phát triển của trẻ nhỏ. Ở tuổi này, trẻ hành động ít có chủ ý và có nhiều khả năng dày vò bất kỳ ai ở xung quanh”, tiến sĩ Swearer nói.

Khi đi học mẫu giáo, trẻ bắt đầu nắm bắt khái niệm quyền lực xã hội giữa bạn bè cùng tuổi. Những đứa trẻ hung dữ chủ động nhắm vào người khác mà chúng cho là dễ tổn thương – nhút nhát, nhạy cảm, nhỏ bé hoặc khác biệt.

Giáo viên thường phản ứng khác với một kẻ bắt nạt tùy thuộc vào độ tuổi. Ở trường mẫu giáo, họ cố gắng truyền đạt một cách nhẹ nhàng. Nhưng ở trường tiểu học, họ nhấn mạnh hơn nhằm hướng tới bảo vệ nạn nhân. Việc cải tạo một đứa trẻ chuyên bắt nạt người khác không bao giờ là quá muộn, nhưng cần định hướng cách giải quyết xung đột để trẻ tự tin khi lên cấp học cao hơn.

Trong khi giáo viên cố gắng làm những gì tốt nhất để kiểm soát nạn bắt nạt, họ không thể luôn luôn canh chừng và ngăn chặn nó. Những người quản lý trường học thậm chí không biết rằng nạn bắt nạt đang diễn ra. Do đó, bố mẹ đóng vai trò chính trong việc giúp con đi đúng hướng. 

Kiểm soát hành vi của trẻ

Khi trẻ là mối đe dọa đối với bạn bè, phụ huynh cần hành động ngay lập tức, không chỉ vì lợi ích của các nạn nhân mà còn để ngăn chặn hành vi này từ trứng nước.

Nếu chưa khẳng định được con có phải kẻ bắt nạt hay không, bạn nên theo dõi các dấu hiệu cảnh báo. Thông thường, trẻ bắt nạt hay bốc đồng và rất nhanh nổi giận, thích kết thân với những đứa trẻ có tính cách tương tự, giải tỏa cảm xúc bằng cách đánh hoặc xô đẩy người khác, thường gây rắc rối ở trường. Ở nhà, trẻ tranh cãi quyết liệt với anh chị em hoặc muốn giải quyết xung đột bằng vũ lực.

Trường hợp con có một hoặc nhiều biểu hiện trên, bạn hãy hướng dẫn con hít thở sâu hoặc đếm đến mười để kiềm chế cảm xúc tiêu cực. Nhiều phụ huynh thường chỉ can thiệp khi thấy con ở vị trí bị hại. Tuy nhiên, nếu phát hiện con gây đau đớn cho người khác, bạn hãy chặn hành động đó ngay lập tức, đưa con ra khỏi vị trí và nói về những việc nên làm khi ở tình huống tương tự.

Theo WikiHow, quát mắng không phải là cách tốt nhất để trị tận gốc vấn đề. Thông thường, việc bắt nạt luôn có nguyên nhân tiềm ẩn. Bằng cách trò chuyện với con, bạn có thể biết con đang bắt chước bố mẹ, ức chế vì từng bị bạn khác bắt nạt hay cảm thấy không còn cách nào khác nên mới đánh bạn để giành đồ chơi.

Bạn có thể tìm cơ hội để hỏi: “Mẹ thấy con không chơi với Charlie nữa. Con có muốn nói với mẹ về chuyện đó không?”. Sau đó, tùy thuộc vào phản ứng của trẻ, bạn tiếp tục giúp chúng nhận thức vấn đề bằng cách nói đơn giản: “Con nên biết bắt nạt bạn là sai. Con hãy thử kể một vài hành động được tính là bắt nạt để sau này tránh ra nhé”.

Bố mẹ hiểu rõ con hơn bất kỳ ai, do đó có thể đưa ra hình phạt hiệu quả nhất, linh hoạt trong từng trường hợp. Một số phụ huynh nhận ra nên quan tâm con nhiều hơn, điều chỉnh thái độ của con một cách từ từ sẽ mang lại kết quả như ý. Nhiều người khác lại thấy rằng bắt trẻ xin lỗi và cảm thấy xấu hổ vì việc đã làm mới là tốt nhất. Hình phạt cho đứa trẻ này chưa chắc hiệu quả khi áp dụng vào đứa trẻ khác, do đó mọi lời khuyên chỉ tham khảo. Quan trọng nhất, bạn không được bỏ qua hành vi xấu của con. Trẻ cần chịu trách nhiệm về việc đã làm. 

Thông thường, trẻ chưa thể thay đổi chỉ sau một hai lần bị phạt. Bạn nên để mắt đến trẻ cho đến khi tin chắc việc bắt nạt đã ngừng lại và trẻ đang đối xử với người khác theo cách ôn hòa hơn.

Trường mẫu giáo là một xã hội thu nhỏ, trong đó trẻ không tham gia bắt nạt hoàn toàn có thể là người chứng kiến hành vi xấu này. Trẻ sẽ giúp nạn nhân, hùa vào với kẻ bắt nạt hay bỏ qua phụ thuộc vào tính cách và nhận thức. Phụ huynh đóng vai trò như một tấm gương soi chiếu cho cách hành xử của trẻ.

Hiện nay, nhiều ông bố bà mẹ đưa con đi phát quà cho người vô gia cư, đăng ký cho cả nhà cùng tham gia thiện nguyện. Đây là một cách tốt để dạy con về sự đồng cảm, quan tâm người khác. Dù bạn chưa nhận ra ngay lập tức, trẻ đang bị ấn tượng bởi sự nghèo khó, thiếu thốn và có thể cảm thấy hối hận về hành động của mình.

Continue Reading

Giáo dục

Thử thách đoán từ vựng tiếng Anh qua hình ảnh

Published

on

By

Hình 1.

Hình 2.

Hình 3.

Hình 4.

Hình 5.

>>Xem đáp án

Continue Reading

Trending